|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày: 06-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Minh T
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đình Ch
Ông Dương Hữu T
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Diệu T- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị L - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/HSST ngày 15/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST- HS ngày 21/8/2024 đối với:
* Bị cáo: Lê Văn Đ. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: không; Sinh ngày 06/7/1985. Tại: xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn Đông Hạ, xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: Lớp 9/12 Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ, đảng phái: Quần chúng. Con ông: Lê Văn Huy; Sinh năm: 1940 (Đã chết). Con bà: Nguyễn Thị Lài; Sinh năm: 1948 (Đã chết). Anh chị em ruột: Bị cáo là con duy nhất. Vợ: Trương Thị Chung; Sinh năm 1984. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Hiện cư trú tại thôn Đông Hạ, xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 12/6/2024, tại xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1970; Nghề nghiệp: Công nhân Địa chỉ: thôn Đông Vịnh, xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Trương Thị Chung, sinh năm 1984; Nghề nghiệp: Công nhân. Địa chỉ: thôn Đông Hạ, xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Người làm chứng: Anh Hoàng Anh S, sinh năm 1985; Địa chỉ: tổ dân phố 13, thị trấn Cẩm Xuyên, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn Đ là công nhân làm việc tại xưởng số 2 Công ty Cổ phần Sao Mai, đóng tại địa bàn xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11/5/2024, sau khi tan ca Lê Văn Đ đến nhà ăn của Công ty ăn trưa. Đến khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày, Định quay về xưởng số 2 để tiếp tục làm việc, khi đi qua tổ may xưởng số 3 (cách xưởng số 2 khoảng 150m), thấy trên chiếc ghế nhựa để công nhân sử dụng ngồi làm việc có 01 chiếc điện thoại nhưng không có người trông coi nên Định nảy sinh ý định lấy trộm. Để thực hiện ý định của mình, Định lấy chiếc điện thoại đưa về cất giấu dưới chiếc mũ cối tại vị trí làm việc của Định ở xưởng số 2. Đến tối cùng ngày Định đưa chiếc điện thoại lấy trộm được về cất giấu trong tủ trong phòng ngủ của Định. Đến ngày 13/5/2024 Công an xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh triệu tập Lê Văn Đ lên làm việc, Định đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đồng thời giao nộp chiếc điện thoại đã lấy trộm vào ngày 11/5/2024 để phục vụ công tác điều tra.
Chiếc điện thoại mà Lê Văn Đ lấy trộm là điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52, màu tím, ốp ngoài làm bằng chất liệu nhựa dẻo màu đen là của chị Nguyễn Thị Hòa, sinh năm 1970, trú tại thôn Đông Vịnh, xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, để trên ghế tại tổ may xưởng số 3 Công ty Cổ phần Sao Mai thì bị mất trộm.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 30 ngày 24/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện Cẩm Xuyên kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52, màu tím, dung lượng 128GB, số seri: 558R318QR3P, số IMEI 1: 352938770210933, số IMEI 2: 354350330210932, đã qua sử dụng, trị giá 6.137.500 đồng; 01 ốp điện thoại làm bằng chất liệu nhựa dẻo màu đen, đã qua sử dụng, giá trị còn lại 20.000 đồng.
* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã thu giữ, xử lý các vật chứng bao gồm:
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52, màu tím, dung lượng 128GB, số seri: 558R318QR3P, số IMEI 1: 352938770210933, số IMEI 2: 354350330210932, đã qua sử dụng; 01 ốp điện thoại làm bằng chất liệu nhựa dẻo màu đen, đã qua sử dụng, do Lê Văn Đ giao nộp. Đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Hòa.
01 USB đã được niêm phong lưu giữ hình ảnh Lê Văn Đ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 11/5/2024 tại Công ty Cổ phần Sao Mai. Chuyển cùng hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, chị Nguyễn Thị Hòa không yêu cầu Lê Văn Đ bồi thường, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Với hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số: 37/CT-VKSCX ngày 15/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Lê Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn Đ mức án từ ..... đến ... tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ ...tháng đến .... Tháng.
- Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí HSST v
Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy rằng:
- [1] Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- [2] Về hành vi phạm tội: Bị cáo Lê Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 11/5/2024 tại tổ may thuộc xưởng số 3 Công ty Cổ phần Sao Mai, đóng tại xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu, Nguyễn Văn Định đã lấy trộm của chị Nguyễn Thị Hòa 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52, màu tím, được bọc ốp bằng chất liệu nhựa dẻo màu đen, trị giá 6.157.500 đồng. Trong vụ án này chỉ có một mình Lê Văn Đ thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi trên của Lê Văn Đ đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, việc xét xử bị cáo về tội danh, điều luật như Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng nào; Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội đầu thú và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, theo quy định tại tại Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- [4] Về tính chất hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu rồi có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản với tổng trị giá 6.157.500 đồng, hành vi đó cần phải được xử lý nghiêm. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng: bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ nghiêm, để có cơ hội để sửa chữa sai lầm, hòa nhập với cộng đồng, thể hiện sự khoan hồng, tính nhân đạo của pháp luật như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định; gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho bị hại, nay bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [6] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định của pháp luật, nên miễn xét.
Đối với 01 USB chứa dữ liệu video hình ảnh bị cáo trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, được chuyển theo hồ sơ vụ án nên cần lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.
- [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- [8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điểm I, s Khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/9/2024).
Giao bị cáo Lê Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người phải thi hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Văn Đ phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Minh T |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyễn Văn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản"
