|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 38/2024/HSST Ngày: 09-7-2024 |
- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Xuân Hải.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Đăng Huấn;
2. Ông Phan Ngọc Đài;
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng xét xử sơ thẩm trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Y K KSOR, sinh năm 1997 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi ĐKNKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: Buôn B, xã D, thị xã H, tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Ê đê; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Y B Mlô, sinh năm 1968 và bà H S Ksor, sinh năm 1968, hiện bố mẹ bị cáo đang sinh sống và làm nông tại buôn A, xã D, thị xã H, tỉnh Đắk Lắk; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: 01 tiền án. Tại bản án số 04/2022/HSST ngày 22/02/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 28/12/2023, tham gia đánh bạc tại buôn M, xã H, huyện N, bị Công an xã H, huyện N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc theo Quyết định số 03/QĐ-XPHC ngày 02/01/2024 với số tiền 1.500.000 đồng.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/3/2024. Hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Krông Năng, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà H E Niê, sinh năm 1985; trú tại: Buôn M, xã H, huyện N, tỉnh Đắk Lắk (có mặt);
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Dương Đình H, sinh năm 1993; trú tại: Buôn H, xã D, thị xã H, tỉnh Đắk Lắk (có đơn xin xét xử vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 24/12/2023, Y K Ksor đến chơi và uống rượu cùng gia đình bà H E Niê tại Buôn M, xã H, huyện N, tỉnh Đắk Lắk. Trong lúc uống rượu Y K thấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 của bà H E Niê đang sạc tại phòng khách nên nảy sinh ý định trộm cắp. Đến khoảng 23h cùng ngày, sau khi nghỉ uống rượu, Y K ngủ lại nhà bà H E Niê cùng Y S (con trai bà H E Niê). Đến khoảng 01h ngày 25/12/2023, Y K tỉnh dậy thấy mọi người trong nhà bà H E đã ngủ say nên đã trộm cắp chiếc điện thoại nói trên dấu vào túi quần rồi đi bộ về nhà anh trai là Y N Ksơr trú tại cùng buôn để ngủ. Đến khoảng 08h ngày 25/12/2023, Y K cầm chiếc điện thoại trộm cắp được đến của hàng điện thoại Hùng Thanh Mobile tại Buôn H, xã D, thị xã H, tỉnh Đắk Lắk do anh Dương Đình H, sinh năm 1993 làm chủ để cầm cố với số tiền 1.800.000 đồng, sau đó tiêu xài cá nhân hết. Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp Y K bỏ đi hỏi địa phương sống lang thang, đến ngày 29/3/2024 thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Krông Năng bắt giữ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 38/KL-HĐĐGTS ngày 09/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Krông Năng kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, mặt lưng màu tím đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 25/12/2023, có giá trị: 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
Tại bản cáo trạng số: 32/CT-VKS ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Y K Ksor, về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã đưa ra các chứng cứ buộc tội, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả đối với hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, như bản cáo trạng số: 32/CT-VKS ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Y K Ksor phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Y K Ksor từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 29/3/2024.
Về phần trách nhiệm dân sự: Anh Dương Đình H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.800.000 đồng nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Truy thu của bị cáo Y K Ksor số tiền 1.800.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.
Chấp nhận việc CQCSĐT Công an huyện Krông Năng đã trả lại 01 chiếc điện thoại hiệu Samsung Galaxy A14, màu tím cho bà H E Niê là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với anh Dương Đình H đã có hành vi cầm cố chiếc điện thoại hiệu Samsung, màu tím của bị cáo Y K Ksơr với giá 1.800.000 đồng. Tuy nhiên, khi cầm cố anh H không biết điện thoại do bị cáo trộm cắp mà có, nên không xử lý là phù hợp.
2
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Các quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với bản kết luận định giá tài sản, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ pháp lý kết luận: Vào khoảng 01 giờ, ngày 25/12/2023, Y K Ksor đã có hành vi trộm căp 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14, màu tím của bà H E Niê ở tại buôn M, xã H, huyện N, tỉnh Đắk Lắk có trị giá 3.000.000 đồng.
Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Y K Ksor đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại Điều luật nêu trên quy định:
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an chung tại địa phương. Bị cáo nhận thức được tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi trái pháp luật xâm hại trái pháp luật đến đều bị trừng trị thích đáng và bị xử lý nghiêm minh. Song, do ý thức coi thường pháp luật bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần áp dụng đối với bị cáo mức hình phạt phù hợp, nhằm trừng trị người phạm tội, đồng thời để bị cáo có thời gian cải tạo, rèn luyện mình trở thành người công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật. Mặt khác, phát huy tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm trên địa bàn huyện Krông Năng nói riêng, trên toàn xã hội nói chung.
[3]. Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[3.1]. Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.
[3.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử cần cân nhắc, xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
3
[3.3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4]. Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo là phù hợp nên cần chấp nhận.
[5]. Đối với anh Dương Đình H đã có hành vi cầm cố chiếc điện thoại hiệu Samsung Galaxy A14 của bị cáo Y K Ksơr với giá 1.800.000 đồng. Tuy nhiên, khi nhận cầm cố anh H không biết điện thoại do bị cáo Y K Ksor trộm cắp mà có, nên không xử lý là phù hợp.
[6]. Về phần trách nhiệm dân sự: Anh Dương Đình H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.800.000 đồng nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
[7]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Truy thu của bị cáo Y K Ksơr số tiền 1.800.000 đồng do phạm tội mà có sung công quỹ Nhà nước.
Chấp nhận việc CQCSĐT Công an huyện Krông Năng đã trả lại 01 chiếc điện thoại hiệu Samsung Galaxy A14, màu tím cho bà H E Niê là chủ sở hữu hợp pháp.
[8]. Về án phí: Bị cáo Y K Ksơr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Y K Ksor phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Y K Ksor: 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 29/3/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Truy thu của bị cáo Y K Ksơr số tiền 1.800.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.
3. Về án phí: Bị cáo Y K Ksơr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kết từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được được niêm yết công khai tại UBND xã, phường, nơi họ cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trương Xuân Hải |
4
Bản án số 38/2024/HSST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 38/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y K Ksơr phạm tội Trộm cắp tài sản
