Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HS-ST

Ngày: 30-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Minh - Cán bộ hưu trí.
  2. Bà Trương Thị Bạch Yến - Giảng viên Trường Đại học Đồng Tháp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Biện Công Năm – Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Xuân T (tên gọi khác: G), sinh năm 2004 tại thành phố S, tỉnh Đ; Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Đ; Nơi ở hiện tại: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Xuân S và con bà Nguyễn Thị Thu H; Vợ, con: Chưa có; Anh, chị, em: Có 02 người, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2002, bị cáo là con út trong gia đình; Tiền sự, tiền án: Chưa; Tạm giữ: Ngày 13/12/2023; Tạm giam: Ngày 22/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S. (có mặt)
  2. Họ và tên: Lê Gia H1 (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 09/7/2007 tại huyện C, tỉnh Đ; Nơi cư trú: Số B, ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Quang C và bà Nguyễn Kim L; Vợ, con: Chưa có; Anh, chị, em: Có 01 người, sinh năm 1997, bị cáo là con út trong gia đình; Tiền sự, tiền án: Chưa; Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)

* Đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Gia H1: Ông Lê Quang C, sinh năm 1966. Nơi cư trú: Số B, ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Đ. (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo Lê Gia H1: Ông Hà Văn N - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ, Chi nhánh số 1. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 12/12/2023, Lê Xuân T mượn xe mô tô biển số 66K1-4905 của anh Lưu Thanh P rồi kêu Lê Gia H1 điều khiển xe chở T đi mua ma túy về để T sử dụng thì được H1 đồng ý. H1 điều khiển xe chở T đến khu vực cầu Đ thuộc xã A, huyện C, tỉnh Đ thì dừng xe lại để T thỏa thuận với người tên B (không rõ họ và địa chỉ) mua 02 viên ma túy với giá 600.000 đồng, T cất giấu ma túy trong túi quần xong thì H1 chở T đi về.

Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 13/12/2023, T tiếp tục kêu H1 chở T đi mua ma túy để T sử dụng cùng bạn tên Kim Y (không rõ họ và địa chỉ) thì được H1 đồng ý. H1 điều khiển xe chở T đến khu vực Cổng A Công viên S thì dừng xe lại để T thỏa thuận với người tên Lính C1 (không rõ họ và địa chỉ) mua 01 bịch ma túy với giá 1.000.000 đồng. T cất giấu ma túy vào trong túi quần chung với 02 viên ma túy mà T đã mua trước đó.

Đến khoảng 00 giờ 40 phút cùng ngày 13/12/2023, trong lúc H1 chở T đi tìm Kim Y, khi cả 02 đến đoạn trước nhà số B, khóm T, phường A, thành phố S thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy phối hợp với Công an phường A, thành phố sa Đ, yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra Công an đã phát hiện và lập biên bản bắt người phạm pháp quả tang, thu giữ của T gồm: 01 bịch nylon màu trắng lớn có nắp kẹp một đầu viền màu đỏ bên trong có chứa 01 viên nén màu vàng, 01 viên nén màu hồng và 01 bịch nylon màu trắng nhỏ có nắp kẹp một đầu viền màu xanh bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy do T đang cất giấu trong túi quần sọt Jean màu đen phía trước bên phải T đang mặc và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen; 01 xe mô tô biển số 66K1-4905.

Tại Kết luận giám định số 1379/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:

  1. Một viên nén màu vàng chứa trong túi nylon dạng nắp kẹp một đầu có viền màu đỏ (ký hiệu mẫu M1) được niêm phong trong phong bì gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,473 gam, loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).
  2. Một viên nén màu hồng chứa trong túi nylon dạng nắp kẹp một đầu có viền màu đỏ (ký hiệu mẫu M2) được niêm phong trong phong bì gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,417 gam, loại Methamphetamine và MDMA (MDMA số thứ tự 11, mục IB thuộc Danh mục I, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).
  3. Tinh thể rắn chứa trong 1 bịch nylon dạng nắp kẹp một đầu có viền màu xanh (ký hiệu mẫu M3) được niêm phong trong phong bì gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 1,747 gam, loại Ketamine (số thứ tự 40, thuộc Danh mục III, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).

Tổng khối lượng các chất ma túy mà T và H1 tàng trữ là 2,637 gam, (trong đó khối lượng 0,473 gam, loại Methamphetamine; khối lượng 0,417 gam, loại Methamphetamine và MDMA; khối lượng 1,747 gam, loại Ketamine).

Ngoài ra trong quá trình điều tra thì T, H1 còn khai nhận vào khoảng tháng 10/2023 H1 có chở T đi mua 01 bịch ma túy, giá 1.000.000 đồng của người tên Lính C1, để T sử dụng cùng Kim Y.

Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKSTPSÐ ngày 30 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố các bị cáo Lê Xuân T, Lê Gia H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Xuân T, Lê Gia H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính:

  • Đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Xuân T mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
  • Đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo cáo Lê Gia H1 mức án từ 09 tháng tù đến 01 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định pháp luật.

Ông Hà Văn N phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo H1: Thống nhất với cáo trạng truy tố và phát biểu luận tội của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi được giải thích pháp luật thì bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, mẹ bỏ đi nên thiếu hụt sự quan tâm giáo dục, tuổi đời còn nhỏ chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bản thân bị cáo không sử dụng ma túy, chỉ vì ham chơi nên mới đồng ý chở T đi mua ma túy...để cân nhắc xem xét cho bị cáo mức hình phạt thấp hơn hoặc bằng mức thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo nhận tội và không bào chữa bổ sung; xin được giảm nhẹ hình phạt. Đại diện hợp pháp của bị cáo H1 không có ý kiến tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng là đúng quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; qua đó có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 13/12/2023, tại trước nhà số B, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đ, Lê Xuân T, Lê Gia H1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng 2,637 gam, (trong đó khối lượng 0,473 gam, loại Methamphetamine; khối lượng 0,417 gam, loại Methamphetamine và MDMA; khối lượng 1,747 gam, loại Ketamine), nhằm mục đích sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

[3] Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, vai trò của từng bị cáo được thể hiện như sau:

[3.1] Bị cáo Lê Xuân T là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được rằng Methamphetamine, MDMA và K là các chất ma túy độc hại cho sức khỏe và tính mạng của người sử dụng. Những người nghiện chất này sẽ bị tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, có thể gây ảo giác, lệch lạc về lý trí, có thể dẫn đến vi phạm pháp luật. Nhà nước có những quy định chặt chẽ, nghiêm cấm, kiểm soát việc sản xuất, mua bán, vận chuyển và tàng trữ các chất ma túy. Pháp luật cũng có những quy định chế tài, xử lý rất nghiêm khắc; nhằm phòng chống, ngăn ngừa, hạn chế tệ nạn ma túy đang có chiều hướng phát triển, gây nguy hại cho cộng đồng và xã hội. Nhưng bị cáo Lê Xuân T vẫn cố ý đi mua ma túy về tàng trữ trái phép ma túy để sử dụng, thậm chí còn rủ rê bị cáo H1 là người chưa đủa 18 tuổi chở đi. Với tổng khối lượng ma túy tàng trữ là 2,637 gam, thì hành vị của bị cáo Lê Xuân T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự với vai trò cầm đầu, xúi giục.

[3.2] Còn bị cáo Lê Gia H1 là người chưa đủ 18 tuổi, nhưng bản thân bị cáo có trình độ học vấn 10/12, hoàn toàn nhận thức được hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Bị cáo T và bị cáo H1 có mối quan hệ ban bè quen biết từ nhỏ, tại phiên tòa bị cáo H1 khai nhận vào lúc 21 giờ ngày 12/12/2023, khi đang ở nhà của người bạn tên Đ thì bị cáo T kêu chở đi đến Đình Tân L1 để mua đồ, trên đường đi bị cáo T nói cho bị cáo là đi mua kẹo, bị cáo thừa nhận do biết rõ bị cáo T là người có sử dụng ma túy và đã từng có lần chở bị cáo T đi mua ma túy sử dụng nên biết được lần chở này là đi mua ma túy, tiếp đó đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 13/12/2024 thì bị cáo T nói với bị cáo là “H1 ơi chở tao lên Cổng A Công viên Sa Đéc mua ma túy để sử dụng với Kim Y”, nhưng vì do cần xe để đi chơi game cũng như được bị cáo T hứa cho tiền chơi game nên bị cáo chở bị cáo T đến thành phố S mua ma túy. Từ đó cho thấy, hành vi của bị cáo H1 là giúp sức cho bị cáo T mua ma túy tàng trữ để bị cáo T sử dụng, nên đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự với vai trò đồng phạm, giúp sức tích cực.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...;

c)..., M,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

.....

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

.....".

[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương, gây khó khăn cho nhân dân và chính quyền địa phương trong việc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt:

  • Bị cáo H1 không có tình tiết tăng nặng. Riêng bị cáo T rủ rê bị cáo H1 cùng đi mua ma túy khi H1 chưa đủ 18 tuổi nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  • Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét trong việc quyết định mức hình phạt. Riêng bị cáo H1 khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng thêm các quy định tại Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự trong việc quyết định mức hình phạt.
  • Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo được giáo dục, học tập, rèn luyện sức khỏe, trở thành công dân tốt, đồng thời cũng nhằm giúp cho bị cáo T được chữa trị, cai nghiện ma túy, có ý chí từ bỏ, đoạn tuyệt với ma túy, hòa nhập xã hội.

[6] Phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo.

[7] Đối với phát biểu bào chữa cho bị cáo H1 của vị Trợ giúp viên pháp lý là phù hợp nên chấp nhận.

[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hiện nay bị cáo T không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo H1 chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với khối lượng ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen là của T sử dụng để liên mua ma túy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

(Hiện các vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc đang quản lý).

  • Đối với 01 xe mô tô biển số 66K1-4905 là của ông Lưu Văn C2 đứng tên chủ sở hữu, ông C2 không biết T mượn sử dụng vào việc phạm tội nên đã hoàn trả lại cho ông C2 nhận xong.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[11] Các vấn đề khác:

  • Đối với T khai người thanh niên tên B và Lính C1 có hành vi bán ma túy cho T sử dụng nhưng thực tế không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của hai người này, nên chưa đủ cơ sở để điều tra làm rõ xử lý theo quy định.
  • Đối với việc T khai vào khoảng tháng 10/2023 có sử dụng ma túy cùng Kim Y tại nhà của T nhưng thực tế không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của người tên Kim Y nên chưa đủ cơ sở để điều tra làm rõ xử lý theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân T (G) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân T mức án 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2023 (ngày tạm giữ).

  2. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố: Bị cáo Lê Gia H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Gia H1 mức án 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành hình phạt.

  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • * Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì niêm phong số 1403, ngày 13/12/2023 có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K1, Công an tỉnh Đ, có chữ ký ghi họ tên của Nguyễn Văn Bé N1 và Phan Nguyễn Hà g, Trương Kim H2 và Lê Xuân T.
    • * Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu OPPO màu đen (Đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng) được niêm phong và có chữ ký Lê Xuân T.

    (Hiện các vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/5/2024).

  5. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

    Các bị cáo Lê Xuân T, Lê Gia H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    (Do bị cáo H1 chưa đủ 18 tuổi, không có tài sản riêng nên ông Lê Quang C là cha ruột của bị cáo H1 có trách nhiệm nộp án phí thay bị cáo H1)

Các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo H1, người bào chữa cho bị cáo H1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh ĐT;
  • - VKSND TP Sa Đéc;
  • - Công an TP Sa Đéc;
  • - Chi cục THA TP Sa Đéc;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo & người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, VT. (H.M)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Hoàng Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ ma túy bị phát hiện bắt quả tang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger