TAND HUYỆN TAM ĐƯỜNG TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày 29/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Tuyết
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Quang Vinh
Ông Hạng A Sính
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Thủy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Huấn - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 17/5/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn X; Không có tên gọi khác; Giới tính: Nam;
Sinh ngày 19/6/1959;Tại: T, Lai Châu;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu; quốc tịch: Việt Nam; dân Tộc: Lào; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/10; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông: Lò Văn K (đã chết); con bà: Lò Thị Đ, đã chết; gia đình bị cáo có 09 anh em ruột. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ: Vàng Thị H, sinh năm 1960, con: có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1978, con nhỏ nhất sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 33/2010/HS-ST ngày 10/6/2010, Toà án nhân dân huyện Tam Đường căn cứ khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS xử phạt Lò Văn X 24 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy; Bị cáo chấp hành xong hiện bị cáo đã được xóa án tích theo quy định.
Tại Bản án số 36/2013/HS-ST ngày 09/5/2013, Toà án nhân dân huyện Tam Đường căn cứ khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48/BLHS xử phạt Lò Văn X 05 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; Áp dụng khoản 1, Điều 194, điểm p, o khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48/BLHS. Xử phạt Lò Văn X 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Áp dụng Điều 50/BLHS tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, bị cáo X phải chấp hành 07 năm tù. Hiện bị can đã được xóa án tích theo quy định.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay (có mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Đức T – Luật sư ký hợp đồng trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (có mặt)
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng: Anh Lò Văn I, sinh năm 1979. Địa chỉ: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ ngày 09/03/2024, Lò Văn X đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết đến chợ thị trấn T, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng và bán kiếm lời. Khi đến chợ thị trấn T, X gặp một người đàn ông không biết nhân thân, lai lịch qua trao đổi Xanh mua được của người đàn ông đó một cục H3 với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được H1, Lò Văn X cất cục H3 vào túi quần đùi bên trái đang mặc rồi tiếp tục đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông khác không biết tên tuổi địa chỉ để đi về nhà ở bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu.
Đến khoảng 12 giờ 55 phút, ngày 09/03/2024, Lò Văn X lấy cục H3 định sử dụng tại bàn uống nước nhà mình thì có Lò Văn I sinh năm 1979 (là cháu họ của X) ở cùng bản Nà Hiềng, xã N, huyện T đến hỏi X bán cho I 100.000 đồng Heroine, X đồng ý, I đưa cho X một tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, X cầm tiền rồi lấy tay bẻ một ít H1 tương đương với số tiền 100.000 đồng đưa cho I. Số Heroine còn lại, Lò Văn X cất giấu vào túi quần đùi bên trái rồi đi vào trong giường ngủ, còn I đi đâu làm gì X không biết.
Sau khi mua được Heroine của X, I dùng bật lửa ga và giấy bạc của I đã chuẩn bị sẵn từ trước tự ý ngồi sử dụng tại bàn uống nước nhà Xanh bằng hình thức hít. Khi I sử dụng xong số Heroine, I cất giấu mảnh giấy bạc và bật lửa gas vào túi quần đang mặc trên người và đi ra cửa sau nhà của Lò Văn X để ra về thì bị Công an huyện T vào nhà Lò Văn X đã giữ I lại để kiểm tra, Lò Văn I khai nhận vừa mua Heroine của Lò Văn X nhưng I đã sử dụng hết và I tự giao nộp cho lực lượng Công an 01 mảnh giấy bạc đã bị vo tròn không xác định hình dạng kích thước và 01 bật lửa gas màu vàng mà I dùng để đốt sử dụng Heroine. Lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện tại túi quần bên trái đang mặc của X thu giữ cục H3 và số tiền 100.000 đồng mà X vừa bán Heroine cho I. Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định. Cùng ngày 09/3/2024 Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lò Văn X tại bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu, kết quả: khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Tại bản kết luận giám định số 12/KLGĐ ngày 09/03/2024 của ông Phan Văn H2- Người giám định tư pháp theo vụ việc lĩnh vực kỹ thuật hình sự, kết luận: Cục chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn X có khối lượng là: 0,12 gam (Không phẩy mười hai gam).
Tại bản kết luận giám định số 289/KL-KTHS ngày 11/03/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại: Heroine (Heroin).
Tại bản kết luận giám định số: 290/KL-KTHS ngày 13/03/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 vnđ (Một trăm nghìn đồng) có mã số hiệu RQ18879190 gửi giám định là tiền thật.
Bản cáo trạng số 30/CT-VKSTĐ, ngày 09/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường truy tố bị cáo Lò Văn X về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn X phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn X từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/3/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo; Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh giấy trắng và phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 bật lửa gas màu cam, 01 mảnh giấy bạc bị vo lại không xác định hình dạng kích thước. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 100.000 đồng. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn X theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Văn X và đề nghị cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo theo quy định pháp luật.
Kiểm sát viên đối đáp: Đối với đề nghị của người bào chữa phù hợp với đề nghị của Kiểm sát viên vì vậy đề nghị hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc, quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, thể hiện được tính răn đe, tính nghiêm minh của pháp luật.
Bị cáo Lò Văn X không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường.
Tại lời nói sau cùng bị cáo Lò Văn X xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người bào chữa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Lò Văn X đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo đều phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định: Vào khoảng 12 giờ 55 phút ngày 09 tháng 3 năm 2024 tại nơi ở của mình thuộc bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu. Lò Văn X đã có hành vi bán trái phép cho Lò Văn I 01 ít Heroine tương đương với số tiền 100.000 đồng. Số H1 còn lại có khối lượng 0,12 gam Lò Văn X đang cất trong túi quần đùi bên trái đang mặc trên người để bán kiếm lời nhưng chưa kịp thực hiện thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ điều kiện nhận biết ma túy là độc dược gây nghiện, làm tổn hại cho sức khỏe, nhân phẩm của con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, đủ cơ sơ để khẳng định hành vi của bị cáo Lò Văn X đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, có căn cứ chấp nhận.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về hành vi phạm tội liên quan đến ma túy (đã xóa án tích) tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo được Bộ chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đối với 0,12 gam (Không phẩy mười hai gam) heroine thu giữ của bị cáo Lò Văn X đã gửi đi giám định không hoàn lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 mảnh giấy trắng và phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 bật lửa gas màu cam; 01 mảnh giấy bạc bị vo lại không xác định hình dạng kích thước là công cụ dùng để thực hiện hành vi vi phạm và vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo Lò Văn X. Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là tiền do bị cáo Lò Văn X thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
[6] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc Heroine, bị cáo X khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn I đây là hành vi vi phạm hành chính nên Công an huyện T đã xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo là đúng quy định;
Đối với hành vi Lò Văn I tự ý sử dụng trái phép chất ma túy tại bàn uống nước của gia đình Lò Văn X, Việc I sử dụng trái phép tại nhà mình Xanh hoàn toàn không biết nên không cấu thành tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.
[7] Án phí: Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn X đề nghị hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo Lò Văn X là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lò Văn X thuộc trường hợp miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn X 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 09/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh giấy trắng và phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 bật lửa gas màu cam; 01 mảnh giấy bạc bị vo lại không xác định hình dạng kích thước.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 100.000 đồng.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 11 giờ 05 phút ngày 10/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tam Đường).
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn X.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hồ Thị Tuyết |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của Toà án nhân dân huyện Tam Đường về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Tam Đường
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn X phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
