|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày: 05-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Hạ và ông Tạ Văn Toan
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ngoan - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Đức T - Sinh ngày 19 tháng 4 năm 2001; tại: huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm D, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đức T1 và con bà Phạm Thị T2; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị A và 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự, nhân thân: không.
Bị cáo đanh chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 54/2024/LCĐKNCT-TA ngày của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
- Bị hại: Chị Bùi Thị N, sinh năm: 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm E, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Đức T, sinh năm 2001; trú tại xóm D, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình và chị Bùi Thị N, sinh năm 1981; trú tại xóm E, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình đều là công nhân cùng làm tại bộ phận hoàn chỉnh Công ty TNHH G có địa chỉ tại thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 17/6/2024 chị Bùi Thị N để túi đựng đồ cá nhân ở vị trí làm việc của mình bên trong có: 01 thẻ ATM ngân hàng S màu vàng cam, số thẻ: 9704030616262272, số tài khoản 030064762563, số dư trong tài khoản là: 14.043.465 đồng và 01 thẻ Căn cước công dân đều mang tên Bùi Thị N, số Căn cước công dân là: [...], ngày sinh: 27/09/1981, nơi thường trú: xóm E, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Do có việc cá nhân nên ngày 18/6/2024 chị N nghỉ phép. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 18/6/2024, Phạm Đức T đi qua vị trí chỗ chị Bùi Thị N ngồi làm việc thì không thấy chị N, T quan sát xung quanh không có người nên nảy sinh ý định trộm cắp thẻ ATM và Căn cước công dân ở túi đựng đồ cá nhân của chị N để rút trộm tiền trong thẻ ATM. T quan sát xung quanh thấy không có người để ý nên đã trộm cắp chiếc Căn cước công dân và thẻ ATM của chị N rồi cất giấu vào túi quần phía sau bên phải của T đang mặc sau đó về vị trí làm việc. Khi hết giờ làm tại công ty, Phạm Đức T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35F1- 005.93 của mình mang theo thẻ Căn cước công dân và thẻ ATM lấy trộm được của chị N đi đến thành phố T, tỉnh Ninh Bình để tìm kiếm cây ATM nhằm thực hiện việc rút trộm tiền trong thẻ ATM của chị N. Quá trình tìm kiếm, T thấy cây ATM của ngân hàng A1 chi nhánh thành phố T có địa chỉ tại: số C, đường Q, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình nên T đi bộ vào. Bên trong cây ATM có 02 máy ATM, T đi đến máy ATM có mã số 3304ATM05 được đặt ở phía bên trái theo hướng từ trục đường phía trước cây ATM nhìn vào trong. T lấy thẻ ATM của chị N đưa vào khe nhận thẻ của cây ATM, T nhìn thông tin trên thẻ Căn cước công dân của chị N và nhập mật khẩu là ngày, tháng, năm sinh của chị N, số "27091981" thì máy ATM báo mật khẩu không đúng, T nhập mật khẩu lần thứ 2 là ngày, tháng và 2 số cuối trong năm sinh của chị N, số "270981" thì thành công. Sau đó T thực hiện thao tác rút tiền 04 lần, mỗi lần rút số tiền là 3.000.000 đồng, ở lần thực hiện thao tác rút tiền thứ 5 với số tiền 3.000.000 đồng thì máy ATM báo tài khoản không đủ tiền và không thực hiện được giao dịch nên T giảm số tiền rút xuống, tiếp tục thực hiện thao tác rút số tiền 2.000.000 đồng và đã thành công. Lúc này nghĩ rằng trong thẻ ATM của chị N không còn tiền nên T đã ngừng giao dịch cầm thẻ ATM và thẻ Căn cước công dân của chị N cùng số tiền 14.000.000 đồng vừa rút được cất giấu trên người sau đó điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35F1-005.93 đi về nhà.
Trên đường về nhà, khi đi qua khu vực hồ L, thuộc xóm G, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình thì T dừng xe, dùng tay phải lấy từ trong túi quần ra chiếc thẻ ATM và thẻ Căn cước công dân của chị N ném xuống hồ L, sau đó T tiếp tục điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35F1- 005.93 đi về nhà cất giấu số tiền 14.000.000 đồng nêu trên.
Khi T rút tiền, chị N nhận được tin nhắn thông báo từ ngân hàng S đến điện thoại di động của chị N thông báo bị trừ tổng số tiền 14.000.000 đồng trong tài khoản ngân hàng, sáng ngày 19/6/2024 chị N đến Công ty làm việc thì phát hiện bị mất thẻ ATM và thẻ Căn cước công dân, đến ngày 01/7/2024 chị N đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y trình báo sự việc.
Tại Bản Cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 02 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Phạm Đức T ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quyết định truy tố, đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Đức T từ 12 tháng cải tạo không giam giữ đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Phạm Đức T cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là nơi bị cáo thường trú, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Phạm Đức T từ 5% đến 10%.
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Phạm Đức T: 01 xe mô tô nhãn hiệu “Honda", loại xe “Wave”, biển kiểm soát 35F1-005.93; 01 chìa khóa xe mô tô; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 35000307; 01 mũ bảo hiểm màu đen.
- Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Đức T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã nêu, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt.
Bị cáo Phạm Đức T nói lời sau cùng tỏ ra rất ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Phạm Đức T tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 18/6/2024, tại Công ty G thuộc địa phận thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Phạm Đức T đã lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt 01 thẻ ATM ngân hàng S và 01 Căn cước công dân của chị Bùi Thị N. Sau đó T đến cây ATM của ngân hàng A1 chi nhánh thành phố T rút và chiếm đoạt số tiền 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng) trong thẻ ATM của chị Bùi Thị N.
Tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:
“Điều 173: Tội trộm cắp tài sản.
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, một khách thể quan trọng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo Phạm Đức T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý lén lút chiếm đoạt 01 thẻ ATM của chị Bùi Thị N nhằm mục đích lấy tiền tiêu sài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự nên việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đối với bị cáo theo bản cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường cho bị hại; đã có thời gian phục vụ trong quân ngũ và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Phạm Đức T có nhân thân tốt.
[4] Về hình phạt:
Bị cáo Phạm Đức T nẩy sinh ý định phạm tội một cách bột phát, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ chịu sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ để răn đe bị cáo, giúp bị cáo cải tạo, sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ khấu trừ 5% thu nhập của bị cáo Phạm Đức T để sung quỹ nhà nước.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Chị Bùi Thị N đã nhận lại số tiền 14.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho chị N số tiền 2.000.000 đồng. Chị N không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên về trách nhiệm dân sự không xem xét, giải quyết trong vụ án.
[6] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền 14.000.000 đồng cho chủ sở hữu là chị Bùi Thị N là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu “Honda”, loại xe “Wave”, biển kiểm soát 35F1-005.93; 01 chìa khóa xe mô tô; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 35000307; 01 mũ bảo hiểm màu đen thu giữ của Phạm Đức T là phương tiện đi lại của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 36; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đức T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Phạm Đức T 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Phạm Đức T cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là nơi bị cáo thường trú, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Khấu trừ 5% thu nhập của bị cáo Phạm Đức T để sung quỹ nhà nước trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Trả lại cho bị cáo Phạm Đức T: 01 xe mô tô nhãn hiệu “Honda”, loại xe “Wave”, biển kiểm soát 35F1-005.93; 01 chìa khóa xe mô tô; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 35000307; 01 mũ bảo hiểm màu đen.
Chi tiết vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mô ngày 03/10/2024.
- Về án phí:
Buộc bị Phạm Đức T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Thu Minh |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Đức T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
