|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2024/HS - ST
Ngày 26/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hưng;
Thẩm phán: Ông Hà Quang Huy;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bế Ngọc Hùng;
- Bà Ngô Thị Hoanh;
- Bà Đặng Thị Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Đậu Xuân Hà, Kiểm sát viên.
Ngày 26/8/2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS, ngày 15/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 10/6/2024 đối với bị cáo:
HOÀNG ĐÌNH T4; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 25 tháng 8 năm 1998 tại tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Tổ I, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Đình G, sinh năm 1972 và bà Trịnh Thị Đ, sinh năm 1972; Bị cáo có vợ là Bùi Thị Thu H, sinh năm 1998 (Đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 27/10/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Mạnh A, sinh năm 1949, Luật sư Văn phòng L1. Địa chỉ: Số G, đường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Đỗ Văn T, sinh năm 1986, trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội;
- Đinh Quang H1, sinh năm 1978, trú tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn;
- Trần Ngọc T1, sinh năm 1980, trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
2
- Vũ Văn L, sinh năm 1965, trú tại: Tổ C, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình;
- Trần Xuân Q, sinh năm 1987, trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (Các bị hại đều vắng mặt có lý do)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Hoàng Đình G, sinh năm 1972, trú tại: Tổ I, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, có mặt.
- Trịnh Thị Đ, sinh năm 1972, trú tại: Tổ I, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, có mặt.
- Bùi Thị Thu H, sinh năm 1998, trú tại: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt.
- Vũ Mạnh T2, sinh năm 1992, trú tại: Tổ A, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Vũ Thị Kiều O, sinh năm 1988, trú tại: Tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Nguyễn Huyền T3, sinh năm 1994, trú tại: Tổ F, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 8/2022, Hoàng Đình T4 được bà Bùi Thị Huyền T5 (là chị gái của vợ T4) nhờ T4 bán hộ chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI i10, biển kiểm soát 20A-271.31 mà vợ chồng bà T5 mua từ năm 2018 bằng hình thức trả góp, tại thời điểm nhờ bán xe thì giấy tờ gốc của chiếc xe đang thế chấp tại Ngân hàng T6 chi nhánh T7. Bà T5 nhờ T4 bán chiếc xe với giá hơn 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng). Bà T5 không yêu cầu khách mua xe phải chuyển tiền đặt cọc, cũng không thỏa thuận cho T4 vay mượn hay sử dụng tiền đặt cọc của khách. Tuy nhiên, sau đó T4 đã nhiều lần chào bán chiếc xe trên rồi chiếm đoạt số tiền của nhiều người chuyển cho T4 để mua xe, cụ thể:
Ngày 13/8/2022, T4 chào bán chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI i10, biển kiểm soát 20A-271.31 cho Đỗ Văn T, là chủ cửa hàng mua bán xe ô tô tại thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc qua điện thoại và tin nhắn trên ứng dụng Zalo. Quá trình thỏa thuận mua bán T4 không cho ông T biết là giấy tờ chiếc xe biển kiểm soát 20A-271.31 đang thế chấp ở Ngân hàng. Sau khi thỏa thuận giá chiếc xe là 330.000.000₫ (Ba trăm ba mươi triệu đồng) thì T4 yêu cầu ông T chuyển trước một khoản tiền thì mới đủ tiền để lấy xe nên ông T đã chuyển khoản từ số tài khoản ngân hàng 136886886 của mình đến số tài khoản 103302318888 của T4 số tiền 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng) và hẹn ngày 14/8/2022 giao, nhận xe tại thành phố T thì ông T sẽ trả nốt số tiền còn lại. Sáng ngày 14/8/2022, ông T cùng với anh Lê Văn H2, sinh năm 1993 là nhân viên làm việc tại cửa hàng của ông T đến thành phố T lấy xe, trước khi đi ông Thắng có gọi điện trước cho
3
T4 để thông báo rồi mới đi. Khi đến thành phố T ông T tiếp tục gọi cho T4 thông báo đã đến nơi và hỏi địa điểm giao xe thì T4 nói đang ở nhà chủ xe đợi lấy giấy tờ. Trên thực tế T4 không thông báo cho chủ xe là bà Bùi Thị Huyền T5 việc ông T đặt mua xe và không cho bà T5 biết đã nhận của ông T 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng) tiền đặt cọc và T4 cũng không chuyển tiền cho bà T5. Sau đó ông T tiếp tục liên lạc với T4 nhiều lần nhưng T4 tránh mặt, biết mình bị lừa nên ông T tìm T4 để đòi lại tiền thì đến tối cùng ngày T4 chuyển trả một phần số tiền ông T đã chuyển mua xe với T4 vào ngày 13/8/2022, số tiền còn lại T4 thỏa thuận sẽ trả sau và sau đó mấy tháng T4 đã trả hết tiền mà ông T chuyển mua xe với T4.
Ngày 15/8/2022, T4 tiếp tục chào bán chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI I10, biển kiểm soát 20A-271.31 cho ông Đinh Quang H1 qua điện thoại và ứng dụng Zalo. T4 gửi hình ảnh và thông tin chiếc xe cho ông H1 và thỏa thuận giá là 326.000.000₫ (Ba trăm hai mươi sáu triệu đồng). Sau khi thống nhất giá, T4 nói với ông H1 là T4 chỉ còn mấy chục triệu, còn thiếu hơn hai trăm triệu nữa mới đủ tiền lấy xe để đề nghị ông H1 chuyển tiền trước. Sau đó anh H1 đã tin tưởng chuyển trước cho T4 226.000.000đ (Hai trăm hai mươi sáu triệu đồng) từ số tài khoản ngân hàng 0987559004 của mình đến số tài khoản 102870259530 của T4 và hẹn tối ngày 15/8/2022 T4 mang xe về giao tận nhà cho ông H1 và nhận số tiền còn lại. Đến tối ngày 15/8/2022, T4 gọi lại cho ông H1 báo là chưa rút được giấy tờ xe đang thế chấp ở Ngân hàng và hẹn ngày 16/8/2022 rút giấy tờ xong sẽ giao xe. Đến trưa ngày 16/8/2022 thì T4 gọi lại cho ông H1 nói là ngày 15/8/2022 T4 đã trả 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng) cho chủ xe nhưng sau đó chủ xe trả lại tiền với lý do không rút được giấy tờ xe nên không bán nữa và sau đó T4 đã sử dụng số tiền đặt cọc của ông H1 vào các mục đích cá nhân của mình mà không trả lại cho ông H1. Ngoài ra sau khi nhận được tiền của ông H1 thì ngày 15/8/2022, T4 không thông báo cho bà T5 biết việc ông H1 đã đặt cọc mua xe và cũng không cho bà T5 biết việc T4 đã nhận số tiền 226.000.000₫ (Hai trăm hai mươi sáu triệu đồng) từ ông H1 và cũng không chuyển tiền cho bà T5 như T4 nói với ông H1. Đến ngày 16/8/2022, khi không giao được xe cũng không còn tiền để trả cho ông H1 thì T4 mới cùng bà T5 ra Ngân hàng rút giấy tờ xe. Nhưng khi ra rút giấy tờ Ngân hàng thông báo nếu rút trước hạn sẽ bị phạt nên bà T5 không rút nữa và thông báo cho T4 việc bà T5 thôi không có ý định bán xe nữa vì xe mới mà vợ chồng bà T5 đặt mua chưa có ngay.
Sau khi chiếm đoạt số tiền từ việc không bán xe cho ông T và ông H1 và biết rõ bà T5 không rút được giấy tờ xe từ ngân hàng cũng như không còn ý định bán xe ô tô nữa. Nhưng sau đó T4 vẫn tiếp tục tự ý sử dụng hình ảnh, thông tin của chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI i10, biển kiểm soát 20A-271.31 để chào bán cho các ông Trần Ngọc T1, ông Vũ Văn L và Trần Xuân Q, cụ thể:
Ngày 18/8/2022, T4 gửi hình ảnh, thông tin của chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI i10, biển kiểm soát 20A-271.31qua ứng dụng zalo trên điện thoại để chào bán cho ông Trần Ngọc T1. Quá trình giao dịch mua bán T4 không cho ông T1 biết là giấy tờ xe đang thế chấp tại Ngân hàng. Sau khi thỏa thuận giá cả là hơn 330.000.000đ (Ba trăm ba mươi triệu đồng), T4 đề nghị ông T1 chuyển
4
trước một ít tiền để lấy xe nhưng không nói cụ thể bao nhiêu. Nên ông T1 đã chuyển khoản số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) từ số tài khoản ngân hàng 43110000610303 của mình đến số tài khoản 102870259530 của T4. Sau khi nhận được tiền T4 bảo ông T1 vẫn không đủ tiền lấy xe nên ông T1 chuyển thêm cho T4 số tiền 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng), tổng cộng ông T1 chuyển cho T4 số tiền 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng) để đặt mua xe. Sau khi nhận tiền T4 hẹn ngày 19/8/2022 sẽ giao xe tại cửa hàng mua bán xe của ông T1 ở tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang và nhận số tiền còn lại. Tuy nhiên đến ngày 19/8/2022, T4 không giao xe cho ông T1 như thỏa thuận mà chiếm đoạt số tiền 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng) của ông T1 để sử dụng vào các việc cá nhân.
Ngày 19/8/2022, T4 tiếp tục rao bán chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI i10, biển kiểm soát 20A-271.31 cho ông Vũ Văn L, quá trình thỏa thuận mua bán T4 không cho ông L biết là giấy tờ xe đang thế chấp ở Ngân hàng, ông L có bảo T4 nếu xe có trả góp thì phải giải chấp nhưng T4 cam đoan là xe có giấy tờ đầy đủ. Sau khi thỏa thuận giá cả là 325.000.000₫ (Ba trăm hai mươi năm triệu đồng), T4 bảo ông L chuyển tiền cọc cho T4 một ít để lấy xe nhưng không nói cụ thể bao nhiêu nên ông L bảo vợ là bà Đinh Thị H3 chuyển khoản số tiền 125.000.000₫ (Một trăm hai mươi năm triệu đồng) từ số tài khoản 48810000021705 mang tên Đinh Thị H3 đến số tài khoản 102870259530 của T4. Sau khi nhận được tiền T4 nhắn tin cho ông L đề nghị ông L chuyển thêm số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) mới đủ tiền lấy xe nên ông L bảo vợ là bà H3 chuyển tiếp cho T4 số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng). Sau khi chuyển tiền xong T4 và ông L hẹn khoảng 12 giờ trưa ngày 19/8/2022 T4 sẽ mang xe vào giao tại cửa hàng của ông L ở tổ C, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình và nhận số tiền còn lại. Tuy nhiên sau đó T4 không giao xe cho ông L như thỏa thuận mà chiếm đoạt tổng số tiền 165.000.000đ (Một trăm sáu mươi năm triệu đồng) của ông L để sử dụng vào các việc cá nhân.
Ngoài ra trong cùng ngày 19/8/2022, T4 đưa ra thông tin để rao bán chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI i10, biển kiểm soát 20A-271.31 cho ông Trần Xuân Q, quá trình thỏa thuận mua bán T4 cũng không cho ông Q biết là giấy tờ xe đang thế chấp ở Ngân hàng. Sau khi thỏa thuận giá của chiếc xe là 360.000.000₫ (Ba trăm sáu mươi triệu đồng), lúc đầu ông Q bảo T4 lấy xe vào Thanh Hóa rồi sẽ trả tiền nhưng T4 nói không có tiền để lấy xe và bảo ông Q trả cho T4 trước nên ông Q đồng ý và chuyển trước cho T4 số tiền 226.000.000₫ (Hai trăm hai mươi sáu triệu đồng) từ số tài khoản ngân hàng 104875948772 của mình đến số tài khoản 102870259530 của T4 để đặt cọc mua xe, phần còn lại hẹn sau khi giao xe xong mới trả hết. T4 và ông Q hẹn nhau giao xe tại cửa hàng B1 vào chiều ngày 19/8/2022. Tuy nhiên sau đó T4 không giao xe cho ông Q như thỏa thuận mà chiếm đoạt số tiền 226.000.000₫ (Hai trăm hai mươi sáu triệu đồng) của ông Q để sử dụng vào các việc cá nhân.
Quá trình điều tra, bị cáo Hoàng Đình T4 khai nhận đã có hành vi gian dối, đưa ra các thông tin sai sự thật trong việc bán chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI i10, biển kiểm soát 20A-271.31 để chiếm đoạt tiền của các bị hại gồm: ông Đinh
5
Quang H1, Đỗ Văn T, Trần Ngọc T1, Vũ Văn L, Trần Xuân Q với tổng số tiền 907.000.000₫ (Chín trăm linh bảy triệu đồng). Lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản cáo trạng số: 22/CT-VKSBK-P1 ngày 13/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Hoàng Đình T4 về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, điều luật có nội dung:
- Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- ...
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên;
- ...
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình T4 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điều 54; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Đình T4 07 đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 27/10/2023.
Về hình phạt bổ sung (Phạt tiền): Không đề nghị phạt bổ sung.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hoàng Đình T4 phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm: Người bào chữa đều nhất trí nội dung Cáo trạng và Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo và đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử bị cáo dưới khung hình phạt thấp hơn mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
6
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có căn cứ để khẳng định:
Trong các ngày 14, 15, 18, 19/8/2022 bị cáo Hoàng Đình T4 đã lợi dụng việc chào bán hộ chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI i10 biển kiểm soát 20A-271.31 thuộc sở hữu của bà Bùi Thị Huyền T5 (là chị gái của vợ T4) để sau đó đưa ra thông tin gian dối rồi chiếm đoạt tiền của 05 (Năm) người liên hệ và chuyển tiền để mua chiếc xe trên với bị cáo T4 gồm: Đỗ Văn T, số tiền 120.000.000đ (Một trăm, hai mươi triệu đồng); Đinh Quang H1 số tiền 276.000.000₫ (Hai trăm, bảy mươi sáu triệu đồng); Trần Ngọc T1, số tiền 120.000.000đ (Một trăm, hai mươi triệu đồng); Vũ Văn L, số tiền 165.000.000₫ (Một trăm, sáu mươi năm triệu đồng); Trần Xuân Q, số tiền 226.000.000₫ (Hai trăm, hai mươi sáu triệu đồng). Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt được của các bị hại là 907.000.000đ (Chín trăm linh bảy triệu đồng). Số tiền chiếm đoạt được bị cáo đã sử dụng cho nhiều mục đích cá nhân của bản thân.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Việc cáo trạng truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Đình T4 thực hiện hành vi lừa đảo nhiều lần đối với nhiều người và các lần đều đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của
7
Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo và gia đình đã tiến hành thỏa thuận, bồi thường cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt và các bị hại không có yêu cầu đề nghị bồi thường thêm. Do đó, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đó là “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra, bị cáo có bác ruột là Hoàng Đình H4 là liệt sỹ, các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, bị cáo còn được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, điều này thể hiện được tính nhân văn, khoan hồng của chính sách pháp luật Nhà nước ta, đồng thời HĐXX sẽ cân nhắc quyết định mức hình phạt phù tù có thời hạn phù hợp để đảm bảo tính răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về hình phạt bổ sung (Phạt tiền): Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thấy bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng, tài sản chung, nên không phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra các bị hại Đinh Quang H1, Đỗ Văn T, Vũ Văn L, Trần Ngọc T1, Trần Xuân Q có yêu cầu, đề nghị bị cáo Hoàng Đình T4 phải trả lại số tiền đã bị chiếm đoạt. Sau đó, bị cáo và gia đình đã tiến hành thỏa thuận, bồi thường cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt, cụ thể: Đỗ Văn T, số tiền 120.000.000đ (Một trăm, hai mươi triệu đồng); Đinh Quang H1 số tiền 276.000.000₫ (Hai trăm, bảy mươi sáu triệu đồng); Trần Ngọc T1, số tiền 120.000.000đ (Một trăm, hai mươi triệu đồng); Vũ Văn L, số tiền 165.000.000₫ (Một trăm, sáu mươi năm triệu đồng); Trần Xuân Q, số tiền 226.000.000₫ (Hai trăm, hai mươi sáu triệu đồng). Các bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm, do vậy HĐXX không xem xét.
Đối với khoản tiền của bà Trịnh Thị Đ (mẹ của bị cáo) cùng bồi thường cho bị hại, bà Đ không yêu cầu bị cáo phải trả lại cho bà.
[8] Về vật chứng của vụ án: Không có.
[9] Các nội dung khác của vụ án:
Đối với bà Bùi Thị Huyền T5 (là chị gái của vợ T4) là người nhờ Hoàng Đình T4 bán hộ chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI i10, biển kiểm soát 20A-
8
271.31 mà vợ chồng bà T5 mua từ năm 2018 bằng hình thức trả góp, tại thời điểm nhờ bán xe thì giấy tờ gốc của chiếc xe đang thế chấp tại Ngân hàng T6 chi nhánh T7. Quá trình điều tra xác định bà T5 không liên quan đến hành vi của T4 nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với ông Hoàng Đình G, bà Trịnh Thị Đ (là bố mẹ đẻ bị cáo Hoàng Đình T4) và chị Bùi Thị Thu H (Vợ của bị cáo Hoàng Đình T4). Quá trình điều tra xác định ông G, bà Đ và chị H không liên quan đến hành vi của T4 nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với hành vi bị cáo T4 khai số tiền chiếm đoạt của ông Đinh Quang H1, T4 đã chuyển ra tiền mặt để trả cho anh Vũ Mạnh T2 125.000.000đ (Một trăm hai mươi năm triệu đồng) và trả cho chị Vũ Thị Kiều O 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Quá trình điều tra anh T2 và chị O thừa nhận sự việc trên. Tuy nhiên, qua điều tra xác định anh T2 và chị O là người thân quen của T4 nên thỉnh thoảng T4 có vay mượn tiền để kinh doanh nên anh T2 và chị O không nhớ rõ thời gian T4 trả tiền dẫn đến khai báo chưa đúng sự thật. Xét thấy, việc khai báo không đúng sự thật của anh T2 và chị O không phải hành vi cố tình khai báo gian dối và không liên quan đến hành vi của T4 nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với lời khai số tiền T4 đã chiếm đoạt của các bị hại: Ban đầu T4 khai số tiền chiếm đoạt của ông H1 qua tài khoản thì T4 đã chuyển ra tiền mặt để trả nợ cho anh Vũ Mạnh T2, sinh năm 1992 trú tại tổ A, phường P, thành phố B và chị Vũ Thị Kiều O, sinh năm 1988 trú tại tổ A, phường N. Sau đó T4 khai sử dụng tiền chiếm đoạt của ông H1 để chơi đá gà trên nhóm Zalo. Số tiền chiếm đoạt của các bị hại khác T4 khai đã sử dụng để trả nợ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không đủ căn cứ xác định T4 sử dụng tiền đã chiếm đoạt vào mục đích đá gà hay mục đích bất hợp pháp khác.
Đối với lời khai của T4 về việc toàn bộ số tiền chiếm đoạt của các bị hại T4 chuyển qua tài khoản cho một người tên T5 trú tại khu vực gần cầu M thuộc phường Q, thành phố T để lấy tiền mặt về sử dụng vào mục đích cá nhân và trả nợ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh người tên T5 theo lời khai của T4 xác định được tại khu vực trên có chị Nguyễn Huyền T3, sinh năm 1994 trú tại Tổ F, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên chị T3 khai nhận bản thân chị không quen biết Hoàng Đình T4, chị không làm dịch vụ gửi, chuyển, đổi tiền hay cho người khác chuyển tiền để lấy tiền mặt. Trong năm 2022 không cho người nào tên T4 hay bất cứ ai chuyển tiền vào tài khoản để lấy tiền mặt.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
9
[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng điều luật, tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt chính và các vấn đề khác là có căn cứ, phù hợp với pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình T4 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Đình T4 07 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 27/10/2023.
- Về hình phạt bổ sung (Phạt tiền): Không phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hoàng Đình T4 phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Đình Hưng |
10
- - Bị hại;
- - Người có QLNVLQ;
- - Lưu: Hồ sơ, HСТР.
Bản án số 38/2024/HS - ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 38/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Đình T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
