Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH HÀ

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HS-ST

Ngày: 19/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH

---

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Huệ;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Hường và ông Nguyễn Văn Hữu

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Bạch Thị Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện VKSND huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn H - Kiểm sát viên.

Vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2024/TLST- HS, ngày 07/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Trần Đình L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 06/8/1980 tại xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Đình T, sinh năm 1952; Con bà: Đặng Thị L1, sinh năm 1952; Hiện đều sinh sống tại xã H, huyện N, Quảng Ngãi. Anh chị em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ tư. Vợ: Lê Thị Diễm T1, sinh năm 1991; Con: Có 01 con, sinh năm 2021, hiện sinh sống cùng mẹ tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.
  2. Tiền án: Bản án số 49/2011/HSST ngày 19/8/2011 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 139 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành phần án phí HSST, chưa được xóa án tích.
  3. Tiền sự: Không.
  4. Nhân thân:
    • Bản án số 215/2002/HSST ngày 20/8/2002 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Mua bán hàng giả” theo quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật hình sự 1999. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án và đã được xóa án tích.
    • Bản án số 94/2008/HSST ngày 14/5/2008 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 139 Bộ luật hình sự 1999. Đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 23/10/2009 và đã được xóa án tích
  5. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.
  6. Họ và tên: Phan Văn T2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 18/12/1980 tại xã T, huyện T, Hà Tĩnh. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phan Văn X (Đã chết); Con bà: Trần Thị T3; sinh năm 1954. Hiện sinh sống tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1989 (đã ly thân và hiện không biết ở đâu). Con: Có 01 con, sinh năm 2010, hiện sinh sống tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Tiền án, tiền sự: Không.
  7. Nhân thân:
    • Ngày 04/7/2005, bị Công an phường C1, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt hành chính 100.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”, đã chấp hành xong ngày 04/7/2005 và đã được xóa tiền sự.
    • Ngày 14/12/2016, bị Công an huyện T, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong ngày 20/12/2016 và đã được xóa tiền sự
    • Bản án số 30/2017/HSST ngày 20/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 20/3/2018 và chấp hành xong toàn bộ bản án, đã được xóa án tích.
    • Bản án số 08/2020/HSST ngày 25/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/3/2021 và chấp hành xong toàn bộ bản án, đã được xóa án tích.
  8. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.
  9. Họ và tên: Trần Như Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 01/01/1997 tại Chợ C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố P, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Không xác định. Con bà: Trần Thị L2; sinh năm 1964. Hiện sinh sống tại thị trấn C, huyện N, Quảng Ngãi. Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ hai. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
  10. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.
  11. Họ và tên: Nguyễn Khắc T4; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 11/11/1989 tại xã L, huyện T, Hà Tĩnh. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn Y, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Khắc Đ, sinh năm 1958. Con bà: Trần Thị H1, sinh năm 1959; Hiện đều sinh sống tại xã L, huyện T, Hà Tĩnh. Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Đặng Thị D, sinh năm: 1997; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2021. Vợ, con bị cáo hiện sinh sống tại xã L, huyện T, Hà Tĩnh.
  12. Tiền án: Bản án số 39/2014/HSST ngày 11/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 05 tháng tù về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/3/2015 nhưng đến ngày 08/3/2024 mới chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí nên chưa được xóa án tích.
  13. Tiền sự: Không.
  14. Nhân thân:
    • Ngày 01/02/2013, bị UBND tỉnh H ra Quyết định đưa vào Trường G thời gian 18 tháng, đã chấp hành xong ngày 18/7/2014 và đã được xóa tiền sự.
    • Ngày 14/01/2016, bị Công an phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng về hành vi Đánh bạc, đã chấp hành xong ngày 14/01/2016 và đã được xóa tiền sự.
    • Ngày 26/01/2021, bị UBND xã L, huyện T ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng, đã chấp hành xong ngày 26/4/2021 và đã được xóa tiền sự.
  15. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Nguyễn Cao T5, sinh năm 1982. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trú tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
  • - Anh Võ Quốc T6, sinh năm 1991. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trú tại tổ dân phố P, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Tạm trú tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
  • - Anh Từ Minh S, sinh năm 2003. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trú tại tổ I, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
  • - Ông Nguyễn Sỹ L3, sinh năm 1954. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trú tại tổ dân phố D, phường N, thành phố H, Hà Tĩnh. Vắng mặt
  • - Anh Trần Hữu Đ1, sinh năm 1992. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trú tại tổ dân phố D, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
  • - Anh Lê Hữu L4, sinh năm 1987. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trú tại số nhà I, ngõ I, đường L, khối phố T, phường V, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Văng mặt.

* Người làm chứng: Anh Lê Văn T7, sinh năm 1986. Trú tại: Tổ dân phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có tại hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 13/01/2024, do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên Trần Đình L gọi điện thoại cho Phan Văn T2 hỏi địa điểm mua ma túy dạng đá nhưng T2 không biết ai bán nên trả lời là để T2 tìm kiếm. Sau đó, T2 gọi điện cho Nguyễn Khắc T4 hỏi mua ma túy thì T4 đồng ý và yêu cầu chuyển tiền vào số tài khoản 1122244155, Ngân hàng M1 mang tên TU MINH SON. Tiếp đến, T2 gọi điện cho L hỏi có góp tiền để mua ma túy về sử dụng không thì L đồng ý và điều khiển xe ô tô Kia Morning biển kiểm soát 37D-005.29 đến đón Phan Văn T2Nguyễn Cao T5, sinh năm 1982 tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Trên đường đi, L đưa cho Phan Văn T2 300.000 đồng để góp mua ma túy. Khi đến cửa hàng kinh doanh xăng dầu trên đường ĐT550 thuộc địa phận xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh thì Phan Văn T2 đưa cho nhân viên bán xăng dầu số tiền 300.000 đồng mà L góp rồi nhờ chuyển khoản số tiền này vào tài khoản số 0201000590123 Ngân hàng V của Phan Văn T2. Sau đó, Phan Văn T2 chuyển 500.000 đồng từ tài khoản của mình đến số tài khoản 1122244155 ngân hàng M1 tên “TU MINH SON” của Nguyễn Khắc T4 để mua ma túy.

Nhận được tiền, T4 thuê xe taxi do anh Lê Văn T7, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh điều khiển, đến đường N, thành phố H. T4 khai nhận đã liên hệ và gặp Lê Hữu L4, sinh năm 1987, trú tại khối phố T, phường V, thành phố H để mua 500.000 đồng ma túy dạng đá. Sau đó, T4 đi taxi về lại Trung tâm y tế huyện T và lấy một ít ma túy ra để sử dụng, số còn lại thì cho vào túi ni lông và bỏ vào trong vỏ bao thuốc lá Thăng L5 để ở chậu cây cảnh trước dãy nhà của Khoa sản - Trung tâm y tế huyện T rồi gọi điện thoại cho Phan Văn T2 đến địa điểm này để lấy ma túy.

Sau đó, L điều khiển xe ô tô 37D-005.29 chở Phan Văn T2Nguyễn Cao T5 đến trước cổng Trung tâm y tế huyện T. Sau khi lấy được ma túy, L gọi điện cho Trần Như Q đặt vấn đề đến nhà trọ của Q tại thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh để sử dụng ma túy thì được Q đồng ý. Khi đến nhà Q, L lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy dạng đá Quý để sẵn ở phòng khách rồi dùng ống hút nhựa đổ ma túy vào cóng và dùng bật lửa đốt lên để bốn người cùng sử dụng.

Đến 18 giờ ngày 13/01/2024, khi bốn đối tượng đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an huyện T phát hiện bắt quả tang và thu giữ các vật chứng mà các đối tượng sử dụng.

Ngày 14/01/2024, CQCSĐT Công an huyện T đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Khắc T4, thu giữ tại phòng Hậu phẫu 3, Khoa Ngoại, Trung tâm y tế huyện T (nơi T4 đang điều trị) 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp dạng đá; 01 chiếc điện thoại di động.

Ngay sau đó, CQCSĐT Công an huyện T đã đưa các đối tượng đi xét nghiệm ma túy tại Trung tâm y tế huyện T, kết quả: Phan Văn T2, Trần Đình L, Trần Như QNguyễn Cao T5 đều dương tính với M.

Tại Bản Kết luận giám định số 207/KL-KTHS, ngày 16/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận:

Chất tinh thể rắn trong bầu tròn cóng thủy tinh gửi đi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0323 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ

Vật chứng của vụ án: 01 cóng bằng thủy tinh chứa chất ma túy dạng đá; 01 (một) chai nhựa, trên nắp chai có gắn ống hút nhựa; 01ống hút nhựa màu đen, dài 04cm, một đầu được vát nhọn; 02 bật lửa ga màu đỏ; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 túi ni lông hình dạng không xác định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A14 màu đen, đã qua sử dụng có gắn thẻ sim 1 mang số thuê bao 0344327479, thẻ sim 2 mang số thuê bao: 0392040241; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh dương, đã qua sử dụng, gắn thẻ sim 1 số thuê bao: 0898123584, thẻ sim 2 số thuê bao: 0904797180; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 2F, màu xanh dương, đã qua sử dụng gắn thẻ sim số thuê bao: 0963346324; 01điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A10, đã qua sử dụng có gắn thẻ sim số thuê bao 0941518456; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31 màu đen, đã qua sử dụng gắn thẻ sim 1 số thuê bao: 0919472335, thẻ sim 2 số thuê bao: 0373818716; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp dạng đá gồm: 01 chai nhựa; 01 ống hút nhựa; 01 cóng thủy tinh; 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning màu trắng biển kiểm soát 37D-005.29.

Ngày 31/01/2024, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên CQCSĐT Công an huyện T đã trả lại chiếc xe ô tô biển kiểm soát 37D-005.29 cho chủ sở hữu là anh Võ Quốc T6, sinh năm 1991, trú tại tổ dân phố P, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi.

Số vật chứng còn hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Hà quản lý theo quy định.

Với hành vi trên, tại cáo trạng số 40/CT-VKS-TH, ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đã truy tố bị cáo Trần Đình Luận về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b, điểm h, khoản 2, Điều 255 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Phan Văn T2, Trần Như Q về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Khắc T4 về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Đình L, Phan Văn T2, Trần Như Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc T4 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Đề nghị áp dụng điểm b, h khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 17, điều 58, điều 38 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Trần Đình L từ 08 năm 6 tháng đến 9 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 17, điều 58, điều 38 Bộ luật hình sự 2015: xử phạt bị cáo Phan Văn T2 từ 7 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 17, điều 58, điều 38 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo Trần Như Q từ 7 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam.

Đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h, khoản 1, Điều 52, điều 38 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc T4 từ 24 tháng đến 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a,c khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung công quỹ 04 chiếc điện thoại thu giữ của các bị cáo; tịch thu tiêu hủy 07 thẻ sim kèm theo điện thoại của các bị cáo và các vật chứng không có giá trị sử dụng là tang vật của vụ án. Trả lại cho Nguyễn Cao T5 1 điện thoại di động và thẻ sim kèm theo.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng các bị cáo đều rất hối hận về hành vi phạm tội của mình; mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để được sớm trở về với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì. Vì vậy, HĐXX khẳng định quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu được và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở khẳng định:

Vào lúc 18 giờ ngày 13/01/2024, tại nhà trọ của Trần Như Qthôn G, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, trong lúc Phan Văn T2, Trần Đình L, Trần Như Q đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau và cho Nguyễn Cao T5 thì bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang. Lực lượng Công an thu giữ 01 cóng thủy tinh bên trong chứa 0,0323 gam Methamphetamine và một số dụng cụ sử dụng chất ma túy khác. Quá trình điều tra xác định, số ma túy trên là do Nguyễn Khắc T4 mua về trích lại một phần sử dụng và bán cho Phan Văn T2Trần Đình L.

Trong đó, Phan Văn T2, Trần Đình L trực tiếp góp tiền, đi mua ma túy; Trần Như Q là người cung cấp công cụ, dụng cụ và sử dụng địa điểm do mình quản lý để các đối tượng sử dụng chất ma túy. Nguyễn Khắc T4 là người bán ma túy cho Phan Văn T2 nhằm trích lại một phần ma túy để sử dụng.

Các bị cáo Phan Văn T2, Trần Đình LTrần Như Q là đồng phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Trần Đình L đã tái phạm chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu thêm tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm h, khoản 2, Điều 255 Bộ luật hình sự.

Hành vi của Nguyễn Khắc T4 đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự.

Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà truy tố các bị cáo Phan Văn T2, Trần Đình L, Trần Như Q, Nguyễn Khắc T4 về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Khắc T4 “Tái phạm”, quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Phan Văn T2, Trần Đình L, Trần Như Q, Nguyễn Khắc T4 đều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, Nguyễn Khắc T4 có bố đẻ là ông Nguyễn Khắc Đ được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những vi phạm chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về ma túy mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Các bị cáo L, T2, T4 đều có nhân thân xấu, từng bị Tòa án xét xử nhưng không lấy đó làm bài học để cải tạo bản thân mà tiếp tục phạm tội, điều đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật kém. Vì vậy cần được xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên quá trình lượng hình cũng cần xem xét cho các bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, luôn thành khẩn khai báo nên có thể giảm nhẹ một phần hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và nhà nước ta. Nhưng dù giảm nhẹ đến đâu cũng phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Trên cơ sở xem xét một cách toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án, HĐXX xét thấy:

Phan Văn T2, Trần Đình LTrần Như Q là đồng phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Trong đó Trần Đình L là người khởi xướng việc đi mua ma túy, góp tiền, chở Phan Văn T2 đi mua ma túy và liên hệ với Trần Như Q đặt vấn đề sử dụng nhà trọ của Q làm địa điểm sử dụng trái phép chất ma túy. Bản thân bị cáo có 2 tình tiết định khung quy định tại khoản 2 Điều 255 BLHS, từng 3 lần bị Tòa án xét xử về các tội danh khác nhau nhưng bị cáo không lấy làm bài học kinh nghiệm mà vẫn tiếp tục phạm tội nên cần có mức án nghiêm khắc nhất.

Tiếp đến Phan Văn T2 giữ vai trò khởi xướng việc sử dụng trái phép chất ma túy và trực tiếp góp tiền, đi mua ma túy. Tuy nhiên, so với bị cáo L thì bị cáo T2 có 1 tình tiết định khung quy định tại khoản 2 Điều 255 BLHS. Hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ đã ly thân hiện đang còn phải nuôi con nhỏ nên khi lượng hình cần xem xét thấp hơn so với hình phạt đối với bị cáo L.

Đối với Trần Như Q là người cung cấp công cụ, dụng cụ và sử dụng địa điểm do mình quản lý để các đối tượng sử dụng chất ma túy. Từ trước đến nay bị cáo là công dân tốt, lần đầu phạm tội nên khi lượng hình cần xem xét cho bị có có mức hình phạt thấp hơn so với Phan Văn T2Trần Đình L.

Nguyễn Khắc T4 là người bán ma túy cho Phan Văn T2. Tuy nhiên, mục đích mua bán của bị cáo nhằm trích lại một phần ma túy để sử dụng thỏa mãn nhu cầu cá nhân, không nhằm hưởng lợi bằng tiền, các hành vi trước đây của bị cáo không liên quan đến ma túy. Bản thân bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ không có việc làm, 3 con còn nhỏ, bố đẻ là người có công với cách mạng. Do đó, có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, mục đích mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu bản thân, do đó miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng vụ án:

  • - Đối với các vật chứng gồm: 01 cóng bằng thủy tinh và phong bì thư ban đầu được cho vào một phong bì thư màu trắng có chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” rồi dán kín lại, trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 túi ni lông hình dạng không xác định; 02 bật lửa ga màu đỏ; 02 chai nhựa; 02 ống hút nhựa; 01 (một) cóng thủy tinh, 7 chiếc thẻ sim điện thoại của các bị cáo. Đây là các công cụ phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu, tiêu hủy là phù hợp.
  • - Đối với 4 chiếc điện thoại thu giữ của các bị cáo là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội, cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A10, đã qua sử dụng có gắn thẻ sim số thuê bao 0941518456 thu của Nguyễn Cao T5, cần căn cứ khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho anh T5 là phù hợp.
  • - Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning màu trắng biển kiểm soát 37D-005.29. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô nói trên thuộc sở hữu của anh Võ Quốc T6, sinh năm 1991, trú tại tổ dân phố P, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Việc Trần Đình L sử dụng xe ô tô này chở các bị cáo đi mua ma túy, anh T6 không biết nên cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Võ Quốc T6 là phù hợp.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

[8] Về các vấn đề khác:

  • - Nguyễn Khắc T4 khai nhận đã liên hệ và mua ma túy của anh Lê Hữu L4, sinh năm 1987, trú tại số nhà I, ngõ I, đường L, khối phố T, phường V, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Tuy nhiên, anh L4 không thừa nhận việc bán ma túy cho T4, ngoài lời khai của T4 thì không có thêm tài liệu, chứng cứ nào khác nên CQCSĐT Công an huyện T không có căn cứ để xử lý đối với Lê Hữu L4.
  • - Đối với Nguyễn Cao T5 là người tham gia sử dụng trái phép chất ma túy cùng các bị cáo nhưng không tham gia thực hiện hành vi phạm tội nên Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • - Đối với anh Từ Minh S là chủ tài khoản ngân hàng mà Nguyễn Khắc T4 sử dụng để giao dịch mua bán ma túy. Việc người khác sử dụng giấy CMND và thông tin của anh Từ Minh S để mở tài khoản anh S không biết nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
  • - Đối với ông Nguyễn Sỹ L3 là chủ nhà trọ nơi các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và anh Trần Hữu Đ1 là người thuê nhà trọ từ ông L3. Anh Đ1 và ông L3 đều không biết việc Trần Như Q cho các đối tượng vào nhà trọ sử dụng trái phép chất ma túy nên không xem xét trách nhiệm hình sự của anh Đ1 và ông L3.
  • - Đối với anh Võ Quốc T6 là chủ sở hữu xe ô tô biển kiểm soát 37D-005.29. Tuy nhiên, anh T6 không biết việc L sử dụng xe ô tô nói trên để chở Phan Văn T2 đi mua ma túy và đi sử dụng ma túy nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
  • - Đối với anh Lê Văn T7 là người lái xe taxi chở Nguyễn Khắc T4 đi mua ma túy, tuy nhiên anh T7 không biết T4 đi đâu, làm gì, chỉ điều khiển xe theo chỉ dẫn của khách hàng nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
  • - Đối với 0,0323 gam Methamphetamine còn lại thu giữ được trong cóng thủy tinh do Phan Văn T2Trần Đình L mua về, do khối lượng ma túy không đủ, Phan Văn T2Trần Đình L đều đang không có tiền án, tiền sự nào liên quan đến ma túy nên CQCSĐT Công an huyện T không xem xét trách nhiệm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đối với các bị cáo.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Phan Văn T2, Trần Đình L, Trần Như Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Nguyễn Khắc T4 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt:

Áp dụng điểm b, điểm h, khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, điều 58, 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Đình L 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (13/01/2024).

Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, điều 58, 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Văn T2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (13/01/2024).

Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, điều 58, 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Như Q 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (13/01/2024).

Áp dụng khoản 1, Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc T4 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (14/01/2024).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 cóng bằng thủy tinh và phong bì thư ban đầu được cho vào một phong bì thư màu trắng có chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” rồi dán kín lại, trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 túi ni lông hình dạng không xác định; 02 bật lửa ga màu đỏ; 02 chai nhựa; 02 ống hút nhựa; 01 (một) cóng thủy tinh; 07 chiếc thẻ sim điện thoại có các số thuê bao: 0344327479; 0392040241; 0898123584; 0904797180; 0963346324; 0919472335; 0373818716.
  • - Sung vào công quỹ nhà nước: 04 chiếc điện thoại đã thu giữ của các bị cáo gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A14 màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh dương, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 2F, màu xanh dương, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31 màu đen, đã qua sử dụng.
  • - Trả lại cho Nguyễn Cao T5: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A10, đã qua sử dụng có gắn thẻ sim số thuê bao 0941518456.

(Đặc điểm vật chứng nói trên thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 07/6/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Hà).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Đình L, Phan Văn T2, Trần Như Q, Nguyễn Khắc T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 BLTTHS: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Thạch Hà;
  • - Công an huyện Thạch Hà;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Thạch Hà;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu Hồ sơ; VT

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thanh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự sơ thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: các bị cáo đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau và cho Nguyễn Cao T thì bị Công an huyện Thạch Hà phát hiện, bắt quả tang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger