Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HS-ST

Ngày 14 - 5 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân : Ông Lê Đăng Thiện;

Bà Lê Thị Kim- Giáo viên trường THCS Lê Thánh Tông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân .

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tham gia phiên tòa:

Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2024/TLST - HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST - HS ngày 02/5/2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Lưu C; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 02 tháng 9 năm 2000 tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện nay: Khu F thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ Văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Trần Lưu M, sinh năm 1976; Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1976; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 2; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;
    Nhân thân:: Ngày 08/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân áp dụng Biện pháp xử lý hành chính: “Cai nghiện bắt buộc”. Chấp hành xong ngày 08/3/2021.
    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2023 đến nay.
  2. Lê Xuân H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05 tháng 02 năm 2004 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Thôn V xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ Văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Lê Xuân H1, sinh năm 1975; Mẹ: Hoàng Thị H2, sinh năm 1975; Gia đình có 02 chị em, Bị cáo là con thứ 2; Chưa có vợ con; Tiền án;Tiền sự: Không.
    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 05/01/2024 thay thế Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
    Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa
  3. Đỗ Như L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 9 năm 1995 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ Văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Đỗ Như L1, sinh năm 1969; Mẹ: Bùi Thị D, sinh năm 1974; Gia đình có 02 chị em, Bị cáo là con thứ 2; Vợ: Hà Vân A, sinh năm 2000; Chưa có con; Tiền sự: Không.
    Tiền án: - Ngày 28/11/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội: “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
    - Ngày 26/5/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” (áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm”). Tổng hợp hình phạt của Bản án ngày 28/11/2019, Hình phạt chung của hai bản án là 30 tháng tù. Ngày 06/5/2022 chấp hành xong hình phạt tù. Đã chấp hành xong án phí.
    Nhân thân: Ngày 26/12/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xử phạt 06 tháng tù về tội: “ Trộm cắp tài sản”.
    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2023 đến nay.
    Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
  4. Nguyễn Xuân Q; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 31 tháng 5 năm 2007 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn A xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ Văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1971; Mẹ: Đỗ Thị T2, sinh năm 1970; Gia đình có 03 chị em, Bị cáo là con thứ 3; Chưa có vợ, con; Tiền án; Tiền sự: Không:
    Nhân thân: - Ngày 10/8/2023 bị Công an huyện T xử phạt hành chính 2.000.000đ về hành vi: “Qua lại biên giới Quốc gia mà không làm thủ tục xuất nhập cảnh”. Đã nộp phạt ngày 10/8/2023;
    - Năm 2022 bị Công an thị trấn T, huyện T xử phạt vi phạm hành chính, hình thức cảnh cáo về hành vi: “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác nhưng không bị truy cứu tráchnhiệm Hình sự” và “ Mang theo trong người hoặc tàng trữ cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phương tiện khác có khả năng sát thương; Đồ vật phương tiện giao thông nhằm mục đích gây thương tích cho người khác”.
    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 05/01/2024 thay thế Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
    Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa
  5. Đỗ Tiến A1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 28 tháng 02 năm 1999 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Thôn A xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ Văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Đỗ T3, sinh năm 1972; Mẹ: Đỗ Thị H3, sinh năm 1976; Gia đình có 02 anh em, Bị cáo là con thứ 1; Chưa có vợ con; Tiền án;Tiền sự: Không.
    Bị cáo bị áp dụng Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
    Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của Bị cáo Nguyễn Xuân Q:

Chị Đỗ Thị T2, sinh năm 1970

Địa chỉ: Thôn A xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

- Người làm chứng:

  1. Anh Lê Duy C1; Sinh năm 2007. Vắng mặt
  2. Địa chỉ: Thôn Đống Nải xã Tây Hồ, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa

  3. Anh Đào Duy L2, sinh năm 1969. Vắng mặt
  4. Anh Lê Hoàng G, sinh năm 2003. Vắng mặt
  5. Anh Cao Minh T4, sinh năm 1974. Vắng mặt
  6. Chị Ngô Thị H4, sinh năm 1976. Vắng mặt
  7. Cùng địa chỉ: Khu A thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

  8. Chị Nguyễn Thị T sinh năm 1976. Có mặt
  9. Địa chỉ: Khu F thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

  10. Anh Lê Bá Khánh L3, sinh năm 2000. Vắng mặt
  11. Địa chỉ: Khu C thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

  12. Chị Phạm Thị B, sinh năm 1968. Vắng mặt
  13. Địa chỉ: Thôn Q xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  14. Chị Vi Thị H5, sinh năm 2005. Vắng mặt
  15. Địa chỉ: xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  16. Chị Trịnh Thị Huyền T5, sinh năm 2002. Vắng mặt
  17. Địa chỉ : Thôn P xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Sáng ngày 25/12/2023 Trần Lưu C mời Trịnh Thị Huyền T5, trú tại xã Y, huyện Y và Vi Thị H5, trú tại: xã B huyện T đến quán ăn đêm “Cọp Âu V” của mình ở khu A, thị trấn T, huyện T để ăn uống. Lúc này tại quán còn có Lê Xuân H, Lê Bá Khánh L3, Lê Duy C1Bùi Thị H6 đang ăn uống tại bàn bên cạnh.

Trong lúc ăn uống Trần Lưu C và mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T tranh cãi với nhau về việc đi chợ mua thực phẩm. Do quen biết nên H can ngăn C: “Có gì anh với mẹ về nhà nói chuyện” thì HC sảy ra tranh cãi nhau. C cầm bát sứ (loại bát dùng ăn cơm) ném trúng vào má bên trái của H. Lê Bá Khánh L3 can ngăn, đẩy C vào bếp nhưng CH vẫn chửi bới nhau.

Lúc này Đỗ Như L, Đỗ Tiến A1Nguyễn Xuân Q đang ngồi chơi tại quán trà chanh Bụi P nghe thấy tiếng chửi nhau nên đi bộ sang quán của C. Đỗ Như L thấy CH đang chửi nhau thì quát: “ Đ.mẹ bay câm hết mồm lại”, C chửi lại: “Đ.mẹ anh, không phải việc của anh, anh đi về đi”. Đỗ Như L chửi C: “Đ.mẹ mi thích cấy chi, bố đánh chết mẹ mi giờ”, C cũng thách thức lại: “Đ.mẹ anh thích cấy chỉ”.

Thấy C thách thức mình Đỗ Như L tức lên đe dọa: “á con chó ni dám bởi tau, nay tau cho dẹp quán luôn”. Nghe L dọa C thì Q cũng tham gia chửi và thách thức C: “ Đ.mẹ mi chửi anh tau, thích ra đây đánh nhau với tau, tau giết chết mẹ mi”. Sau đó Q cùng Như L, Tiến A1 tiếp tục chửi bới đòi xông vào quán đánh C; Q còn hô to: “ Về lấy súng bắn chết mẹ nó đi” mục đích để đe dọa C. C ở trong quán bực tức dùng tay đấm vỡ tủ kính tại bếp và nhặt mảnh kính vỡ cầm thách thức nhóm Như L. Thấy vậy Q quay lại khu bếp của quán trà chanh Bụi P lấy 02 con dao(01 con dao dạng dao bầu mũi nhọn và 01 con dao dạng dao thái) cầm quay sang để đánh C nhưng được bà T can ngăn đẩy ra đường nên Q để dao lại chậu hoa cạnh đường L. Bà TTrịnh Thị Huyền T5 can ngăn đẩy C đi về phía quán phở của ông Cao Minh T4. Nhóm Như L, Tiến A1Q đi ra đầu ngõ đứng. Lê Xuân H thấy hai bên cãi nhau nên lấy xe ô tô đi về nhà tại xã X.

Khoản 03h sáng cùng ngày H điều khiển xe mô tô quay lại, để xe ở đầu ngõ giáp đường L rồi đi bộ lại chỗ C (trước quán phở nhà ông T4). Thấy H đi về phía mình, C chạy vào quán của ông T4 lấy một con dao thái ra đuổi đánh H nhưng bà TT5 ngăn lại. T5 lấy con dao trong tay C ném xuống lề đường.

Thấy C cầm dao đuổi H nên Q quay ra chậu hoa lấy con dao nhọn cầm chạy lại. Thấy Như L đứng trước quán mình nên C đi lại, Như L cũng đi về phía C. Khi cả hai tiến lại cách nhau khoảng 01 m, Như L dùng tay phải đấm một cái trúng vào miệng C làm C ngã xuống đường thì Lê Bá Khánh L3 can ngăn, C đứng dậy bỏ chạy. Lúc này Q cầm dao nhọn, Tiến A1 cầm điếu cày lấy ở quán nhà C, H nhặt mảnh gạch đất nung chạy đuổi theo C. C chạy vào quán ông T4 lấy 01 con dao thái cầm chạy ra thì Tiến A1, QH bỏ chạy ra hướng đường L. Như L đứng lại trước quán thì C cầm dao xông lại, bà T can ngăn nhưng C vẫn ném dao về phía Như L làm phần lưỡi dao trúng vào trán bên trái của L.

Thấy L bị C ném dao, Q cầm 02 con dao (lấy ở quán B1 và nhặt con dao C vừa ném L rơi ở đường), Tiến A1 cầm điếu cày, H cầm mảnh gạch đất nung chạy lại để đánh C. Như L cũng chạy theo đuổi C. Bị nhóm L đuổi đánh, C chạy vào trong quán phở của ông T4. Tiến A1 cầm điếu cày ném theo nhưng không trúng, điếu rơi xuống cạnh cửa quán. Lúc này ông T4 chủ quán đi ra nhặt điếu lên nhưng bị Tiến A1 giật lại, ông T4 kéo cửa cuốn xuống để ngăn không cho nhóm L, Q, Tiến A1, H xông vào đánh C.

Như L đứng ngoài quán chửi đe dọa C: “ Đ.mẹ mi, nay mi đánh tau là sai lầm lớn rồi”. tiếp đó HTiến A1 dùng tay đập vào cửa quán và cùng L, Q chửi bới thách thức C ra đánh nhau khoảng 5 đến 10 phút nhưng C không ra nên cả nhóm bỏ đi.

Ngày 04/01/2024 Đỗ Tiến A1 đến Công an huyện T đầu thú.

Hiện trường nơi sảy ra sự việc là tại đường nhựa liên khu đoạn qua khu phố A thị trấn T, huyện T. Quá trình xác định hiện trường cơ quan điều tra đã thu giữ: 04 con dao; 03 mảnh sứ màu trắng; 01 mảnh thủy tinh kích thước (1,5 x 2,5) cm; 01 phần viên gạch loại gạch đất nung kích thước (9,5x 9 x 5,5)cm; 01 điếu cày bằng nứa và các file video ghi hình lại diễn biến vụ việc, bao gồm:

  • - 02 file video trích xuất từ camera của quán P1 do ông Cao Minh T4 giao nộp;
  • - 03file video trích xuất từ camera an ninh của quán trà chanh Bụi P do bà Phạm Thị B giao nộp.

Ngày 27/02/2024 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu phòng K - Công an tỉnh T giám định kỹ thuật số đối với dữ liệu điện tử thu giữ. Tại Kết luận giám định số 1065/KL- KTHS ngày 14/3/2024 của phòng K kết luận: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 05 tệp video của 02 đĩa DVD gửi giám định.

Xem xét dấu vết trên thân thể của Đỗ Như L xác định: 01 vết rách da chảy máu vùng đuôi lông mày trái, kích thước (2 x 0,3) cm; Bờ mép vết thương sắc ngọt.

Tại Kết luận giám định số 199/KLTTCT- PYTH ngày 06/02/2024 của Trung tâm P2 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Như L tại thời điểm giám định là 03%.

Ngày 19/02/2024 Đỗ Như L có Đơn đề nghị không khởi tố vụ án Hình sự và miễn truy cứu trách nhiệm Hình sự cho Trần Lưu C.

Xem xét dấu vết trên thân thể của Trần Lưu C xác định: 01 vết rách da, dài 2 cm tại giữa ngón trỏ và ngón giữa bàn tay phải; 01 vết rách da kích thước 1cm x 1,5cm cạnh bàn tay phải; 01 vết xước da tại vị trí bên trong giữa môi trên, kích thước 0,5cm x 02cm.

Đối với thương tích tại bàn tay phải là do C tự đấm vào tủ kính gây nên. Đối với vết thương ở môi bị Đỗ Như L dùng tay đấm, do thương tích nhẹ nên Trần Lưu C từ chối giám định và không đề nghị truy cứu TNHS đối với Đỗ Như L.

Xem xét dấu vết trên thân thể của Lê Xuân H xác định: 01 vết rách da chảy máu tại trên gò má dưới đuôi mắt trái, kích thước 1cm x 2cm, bờ mép vết thương sắc ngọt; 01 vết bầm tím tại gò má dưới đuôi mắt trái kích thước 2,5cm x 3cm.

Thương tích trên là do Trần Lưu C dùng bát sứ ném trúng gây nên, do thương tích nhẹ nên Lê Xuân H từ chối giám định thương tích và không đề nghị truy cứu TNHS đối với Trần Lưu C.

Về phần Dân sự: Các Bị cáo bị thương tích trong vụ án không yêu cầu bồi thường.

Vật chứng gồm: 04 con dao; 03 mảnh sứ màu trắng; 01 mảnh thủy tinh kích thước (1,5 x 2,5) cm; 01 phần viên gạch loại gạch đất nung kích thước (9,5x 9 x 5,5)cm; 01 điếu cày bằng nứa hiện đang quản lý theo quy định pháp luật.

Cáo trạng số 41/CT-VKS -TX ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố các Bị cáo Trần Lưu C, Lê Xuân H, Nguyễn Xuân QĐỗ Tiến A1 về tội: "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự và Bị cáo Đỗ Như L về tội: "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm e khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Các Bị cáo: Trần Lưu C, Lê Xuân H, Đỗ Như L, Nguyễn Xuân QĐỗ Tiến A1 phạm tội: "Gây rối trật tự công cộng"

Đề nghị HĐXX :

  • - Áp dụng: Điểm b khoản 2 điều 318; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điểm s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự đối với các Bị cáo: Trần Lưu C; Đề nghị xử phạt Bị cáo Trần Lưu C từ 29(Hai mươi chín) tháng tù đến 32(Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/12/2023.
  • - Áp dụng: Điểm b khoản 2 điều 318; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điểm s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự đối với Bị cáo Lê Xuân H; Đề nghị xử phạt Bị cáo Lê Xuân H từ 27(Hai mươi bảy) tháng tù đến 30(Ba mươi)tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54(Năm mươi tư) đến 60(Sáu mươi) tháng.
  • - Áp dụng: Điểm e khoản 2 điều 318; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điểm s khoản 1điều 51 Bộ luật hình sự đối với Bị cáo Đỗ Như L; Đề nghị xử phạt Bị cáo Đỗ Như L từ 27(Hai mươi bảy) tháng tù đến 30(Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/12/2023.
  • - Áp dụng: Điểm b khoản 2 điều 318; Điều 17; Điều 58; Điểm s khoản 1 điều 51; Khoản 6 điều 91; Khoản 1 điều 101 Bộ luật hình sự đối với Bị cáo Nguyễn Xuân Q; Đề nghị xử phạt Bị cáo Nguyễn Xuân Q từ 18(Mười tám) tháng tù đến 20(Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 05/01/2024.
  • - Áp dụng: Điểm b khoản 2 điều 318; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điểm s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự đối với Bị cáo Đỗ Tiến A1; Đề nghị xử phạt Bị cáo Đỗ Tiến A1 từ 24(Hai mươi tư) tháng đến 27(Hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48(Bốn mươi tám) đến 54(Năm mươi tư) tháng.

Buộc các Bị cáo chịu án phí HSST theo quy định pháp luật; Về vật chứng: Đề nghị căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật TTHS tịch thu tiêu hủy gồm: 04 con dao; 03 mảnh sứ màu trắng; 01 mảnh thủy tinh kích thước (1,5 x 2,5) cm; 01 phần viên gạch loại gạch đất nung kích thước (9,5x 9 x 5,5)cm; 01 điếu cày bằng nứa.

Các Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, các Bị cáo đề nghị HĐXX cho các Bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của các Bị cáo tại cơ quan điều tra; Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đều phản ánh thống nhất khách quan: Vào rạng sáng ngày 25/12/2023 tại khu A, thị trấn T, huyện T các Bị cáo Trần Lưu C, Lê Xuân H, Đỗ Như L, Nguyễn Xuân QĐỗ Tiến A1 đã có hành vi chửi bới to tiếng, thách thức đánh nhau ở ngoài đường và trong khu dân cư rồi cầm theo hung khí đuổi, đánh nhau trên đoạn đường thuộc khu phố A thị trấn T, đập cửa đòi xông vào nhà dân để đánh nhau. Trong đó Bị cáo Trần Lưu C sử dụng dao, bát sứ, mảnh kính vỡ; Bị cáo Q cầm dao; Bị cáo Tiến A1 cầm điếu cày; Bị cáo H cầm mảnh gạch đất nung. Bị cáo L dùng tay không. Hành vi của các Bị cáo Trần Lưu C, Lê Xuân H, Đỗ Như L, Nguyễn Xuân QĐỗ Tiến A1 đủ yếu tố cấu thành tội: “ Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo Đỗ Như L đã “Tái phạm” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm e khoản 2 điều 318 Bộ luật Hình sự. Các Bị cáo Trần Lưu C, Lê Xuân H, Nguyễn Xuân QĐỗ Tiến A1 dùng hung khí nguy hiểm nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 2 điều 318 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Đỗ Như L phạm tội: "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm e khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; Các Bị cáo: Trần Lưu C, Lê Xuân H, Nguyễn Xuân QĐỗ Tiến A1 phạm tội: "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số 41/CT-VKS -TX ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố các Bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất mức độ nghiêm trọng của vụ án: HĐXX thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng. Vụ án có nhiều Bị cáo.

[4]. Xét về mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các Bị cáo: HĐXX thấy rằng: Hành vi của các Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử phạt các Bị cáo thật nghiêm minh mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục các Bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[ 5] Xét về vai trò thực hiện hành vi phạm tội của các Bị cáo: HĐXX thấy rằng: Hành vi phạm tội của các Bị cáo không phải là trường hợp phạm tội có tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong vụ án này Bị cáo C giữ vai trò chính trong vụ án nên Bị cáo C xếp vai trò cao nhất. Các Bị cáo LQ xếp vai trò ngang nhau và xếp thứ 2 trong vụ án. Bị cáo Lê Xuân H xếp vai trò thứ 3 trong vụ án. Đỗ Tiến A1 tham gia với vai trò thứ yếu nên xếp vai trò cuối cùng trong vụ án. Các Bị cáo đều phải chịu mức hình phạt tương ứng với mức độ phạm tội của từng Bị cáo.

[ 6] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo HĐXX thấy rằng:

Bị cáo Đỗ Như L có hai Tiền án: Ngày 28/11/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội: “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Ngày 26/5/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” (áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm”). Tổng hợp hình phạt của Bản án ngày 28/11/2019, Hình phạt chung của hai bản án là 30 tháng tù. Ngày 06/5/2022 chấp hành xong hình phạt tù. Đã chấp hành xong án phí. Ngoài ra Bị cáo L còn có Nhân thân xấu: Ngày 26/12/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xử phạt 06 tháng tù về tội: “ Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Trần Lưu C có Nhân thân xấu: Ngày 08/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân áp dụng Biện pháp xử lý hành chính: “Cai nghiện bắt buộc”. Chấp hành xong ngày 08/3/2021.

Bị cáo Nguyễn Xuân Q có nhân thân xấu: Ngày 10/8/2023 bị Công an huyện T xử phạt hành chính 2.000.000đ về hành vi: “Qua lại biên giới Quốc gia mà không làm thủ tục xuất nhập cảnh”. Đã nộp phạt ngày 10/8/2023; Năm 2022 bị Công an thị trấn T, huyện T xử phạt vi phạm hành chính, hình thức cảnh cáo về hành vi: “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm Hình sự” và “ Mang theo trong người hoặc tàng trữ cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phương tiện khác có khả năng sát thương; Đồ vật phương tiện giao thông nhằm mục đích gây thương tích cho người khác”.

Các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên các bị cáo đều được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo C có ông ngoại là ông Nguyễn Minh C2 là Thương binh và được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất; Bị cáo Đỗ Tiến A1 đã đầu thú; Bị cáo Lê Xuân H có bà nội là bà Đồng Thị T6 được Chủ tịch nước CHXHCNVN tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì; Bị cáo H đã tự nguyện giao nộp vũ khí và đã quyên góp ủng hộ xây dựng nhà ở cho hộ nghèo nên 3 Bị cáo Trần Lưu C; Lê Xuân HĐỗ Tiến A1 được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS. HĐXX sẽ giảm nhẹ một phần hình phạt cho các Bị cáo để các Bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

[7] Về Hình phạt: Bị cáo C giữ vai trò đầu trong vụ án, có nhân thân xấu; Bị cáo L có Tiền án và nhân thân xấu nên HĐXX áp dụng điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các Bị cáo, bắt các Bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe giáo dục các Bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.

Riêng đối với Bị cáo Q phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi (16 tuổi 6 tháng 25 ngày) nên HĐXX áp dụng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Bị cáo Q có nhân thấn xấu nên HĐXX áp dụng khoản 6 điều 91; Khoản 1 điều 101 Bộ luật Hình sự đối với Bị cáo Q, bắt Bị cáo Q cách ly xã hội một thời gian nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ Bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Đối với các Bị cáo: Lê Xuân HĐỗ Tiến A1 có vai trò thứ yếu trong vụ án, có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, không có Tiền án, tiền sự có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có lý lịch và nơi cư trú rõ ràng nên HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly xã hội đối với các Bị cáo mà áp dụng điều 65 Bộ luật Hình sự cho các Bị cáo được hưởng án treo và giao các Bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục cũng đủ điều kiện giáo dục các Bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội.

[8] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 04 con dao; 03 mảnh sứ màu trắng; 01 mảnh thủy tinh kích thước (1,5 x 2,5) cm; 01 phần viên gạch loại gạch đất nung kích thước (9,5x 9 x 5,5)cm; 01 điếu cày bằng nứa đều là công cụ, phương tiện phạm tội nên HĐXX căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật TTHS tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.

[10] Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng: Điểm b khoản 2 điều 318; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điểm s khoản 1, 2 điều 51 đối với Bị cáo Trần Lưu C ;
  • - Áp dụng: Điểm e khoản 2 điều 318; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51 đối với Bị cáo Đỗ Như L;
  • - Áp dụng: Điểm b khoản 2 điều 318; Điều 17; Điều 58; Khoản 6 điều 91; Khoản 1 điều 101; Điểm s khoản 1 điều 51 đối với Bị cáo Nguyễn Xuân Q;
  • - Áp dụng: Điểm b khoản 2 điều 318; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điểm s khoản 1, 2 điều 51 đối với các Bị cáo Lê Xuân HĐỗ Tiến A1;
  • - Tuyên bố: Các Bị cáo: Trần Lưu C, Lê Xuân H, Đỗ Như L; Nguyễn Xuân QĐỗ Tiến A1 phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.
  • - Xử phạt:
    1. Bị cáo Trần Lưu C 30(Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/12/2023.
    2. Bị cáo Đỗ Như L 29(Hai mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/12/2023.
    3. Bị cáo Nguyễn Xuân Q 18(Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 05/01/2024.
    4. Bị cáo Lê Xuân H 28(Hai mươi tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 56 (Năm mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    5. Bị cáo Đỗ Tiến A1 25(Hai mươi lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 50 (Năm mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Bị cáo Lê Xuân H cho UBND xã X; Giao Bị cáo Đỗ Tiến A1 cho UBND xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật TTHS;

Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 con dao (loại dao thái) đã qua sử dụng, lưỡi dao bằng kim loại dài 25cm, cán dao bằng gỗ dài 12cm; 01 con dao(loại dao thái), phần lưỡi dao bằng kim loại đầu nhọn, có một cạnh sắc dài 19,5cm, phần rộng nhất của lưỡi dao 06cm, cán dao bằng gỗ màu đen dài 12,5cm; 01 con dao(loại dao thái) dài 37cm, phần cán dao bằng gỗ dài 12,5cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 24,5cm, phần rộng nhất 6,5cm, dao đã qua sử dụng; 01 con dao(loại dao thái) dài 33,5cm, cán dao bằng gỗ dài 13cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20,5cm; 03 mảnh sứ màu trắng; 01 mảnh thủy tinh kích thước (1,5 x 2,5) cm; 01 phần viên gạch (loại gạch đất nung) kích thước (9,5x 9 x 5,5)cm; 01 điếu cày bằng nứa.

Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 60 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân.

- Về án phí : Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH;

Buộc các Bị cáo Trần Lưu C, Lê Xuân H, Đỗ Như L; Nguyễn Xuân QĐỗ Tiến A1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST;

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Các Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thọ Xuân;
  • - VKSND tỉnh Thanh hóa;
  • - THA dân sự;
  • - THA hình sự Công an huyện Thọ Xuân;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Xuân Trường, xã Xuân Hồng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 38/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Hữu cường và ĐP Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger