|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 38/2024/HS -ST Ngày 08 - 07-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Thái Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Chuyết
Ông Nguyễn Mạnh Trường
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Vũ Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 07 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2024/TLST- HS ngày 20 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST - HS ngày 28 tháng 06 năm 2023, đối với bị cáo:
Bùi Như C, sinh năm 2000 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Xã P, huyện T, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh: Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Ngọc Đ và bà: Nguyễn Thị M; Có vợ là: Dương Thảo C1; có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/02/2024 bị tạm giam từ ngày 04/03/2024 đến ngày 23/04/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn “tạm giạm” bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” đến nay (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Vũ Hữu D, sinh năm 1992, Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. ( Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1993, Địa chỉ: Xóm A, xã P, huyện T, tỉnh Nam Định. ( Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983, Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.( Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Xuân Đ1, sinh năm 2000, Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Nam Định.( Vắng mặt)
- Anh Trần Trung Đ2, sinh năm 1990, Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.( Vắng mặt)
- Chị Lê Thị H1, sinh năm 1979, Địa chỉ: Xóm D, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định.( Vắng mặt)
- Anh Đặng Văn C2, sinh năm 1996, Địa chi: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Nam Định (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Anh Dương Văn T1, sinh năm 1983, Địa chỉ T4, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu năm 2023, Bùi Như C cho người khác vay tiền không cần thế chấp trực tiếp hoặc bằng hình thức chuyển khoản qua Ngân hàng T5 số tài khoản 19034137666017 mang tên B Chi giao dịch chuyển, nhận tiền đối với những người vay với lãi suất từ 3.333 đồng đến 4.667 đồng/1.000.000 đồng/ngày để thu lợi bất chính. Khi giao tiền, Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên và thoả thuận với những người vay sau 30 ngày nếu không thanh toán tiền gốc thì người vay tiền phải trả tiền lãi tháng tiếp theo cho C. Từ tháng 3/2023 đến tháng 2/2024, C đã cho 08 người vay tổng số tiền 310.000.000 đồng cụ thể như sau:
1. Anh Vũ Hữu D:
Lần 1: Ngày 20/2/2023 C cho anh D vay 15.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày. Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 1.800.000 đồng nên đưa cho D số tiền 13.200.000 đồng. Ngày 07/3/2023 anh D trả tiền gốc 15.000.000 đồng cho C.
Theo quy định của Điều 486 BLDS, số tiền lãi được hưởng hợp pháp của C là 20%/năm của khoản tiền vay. Như vậy số tiền hưởng hợp pháp là: (15.000.000 x 20%): 12 = 250.000 đồng.
Số tiền C chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.800.000 - 250.000 = 1.550.000 đồng.
Lần 2: Ngày 23/8/2023 C cho anh D vay 10.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày. Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 1.200.000 đồng nên đưa cho D số tiền 8.800.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (10.000.000 x 20%): 12 = 166.667 đồng.
Số tiền C chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.200.000 - 166.667 = 1.033.333 đồng.
Lần 3: Ngày 29/8/2023 C cho anh D vay 10.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 1.200.000 đồng nên đưa cho anh D số tiền 8.800.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (10.000.000 x 20%): 12 = 166.667 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.200.000 - 166.667 = 1.033.333 đồng. Ngày 23/9/2023 anh D trả cho C tiền lãi tháng tiếp theo của lần vay thứ 2 và lần vay thứ 3 là 2.400.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (10.000.000 x 20%): 12 x 2 = 333.333 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 2.400.000 – 333.333 đồng = 2.066.667 đồng
Lần 4: Ngày 10/9/2023 C cho anh D vay 10.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 1.200.000 đồng nên đưa cho anh D số tiền 8.800.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (10.000.000 x 20%): 12 = 166.667 đồng
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.200.000 - 166.667 = 1.033.333 đồng.
Lần 5: Ngày 11/9/2023 C cho anh D vay 10.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 1.200.000 đồng nên đưa cho anh D số tiền 8.800.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (10.000.000 x 20%): 12 = 166.667 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.200.000 - 166.667 = 1.033.333 đồng.
Lần 6: Ngày 18/9/2023 C cho anh D vay 10.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 1.200.000 đồng nên đưa cho anh D số tiền 8.800.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (10.000.000 x 20%): 12 = 166.667 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.200.000 - 166.667 = 1.033.333 đồng.
Lần 7: Ngày 25/9/2023 Chỉ cho anh D vay 10.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 1.200.000 đồng nên đưa cho D số tiền 8.800.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (10.000.000 x 20%): 12 = 166.667 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.200.000 - 166.667 =1.033.333 đồng.
Sau khi vay tổng cộng 60.000.000 đồng, những tháng tiếp theo anh D trả tiền lãi cho C tính theo tổng số tiền đã vay (tiền lãi mỗi tháng là 7.200.000 đồng). Sau đó anh D trả thêm cho C 03 tháng tiền lãi (tháng thứ nhất do không có đủ tiền
nên anh D chia làm hai lần trả vào ngày 17/10/2023 và ngày 23/10/2023, tháng thứ hai vào ngày 15/11/2023, tháng thứ ba vào ngày 15/12/2023).
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (60.000.000 x 20%): 12 x 3 = 3.000.000 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 7.200.000 x 3-3.000.000 = 18.600.000 đồng.
Ngày 15/01/2024 anh D trả Chí 24.000.000 đồng gồm 20.000.000 đồng tiền gốc và 4.000.000 đồng tiền lãi tháng tiếp theo của khoản vay 40.000.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (40.000.000 x 20%): 12 = 666.667 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 4.000.000- 666.667 = 3.333.333 đồng.
Tổng số tiền lãi anh D đã trả cho C3 là 37.000.000 đồng. Trong đó số tiền lãi được hưởng hợp pháp của C là: 5.250.002 đồng, số tiền C chiếm hưởng bất hợp pháp là: 31.749.998 đồng. Hiện nay, anh D còn nợ C 40.000.000 đồng tiền gốc.
2. Anh Nguyễn Văn T:
Lần 1: Ngày 05/9/2023, C cho anh T vay 10.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 1.200.000 đồng nên đưa cho anh T 8.800.000 đồng. Đến ngày 21/9/2023 anh T2 đã trả lại 10.000.000 đồng tiền gốc cho C.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (10.000.000 x 20%): 12 = 166.667 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.200.000 - 166.667 = 1.033.333 đồng.
Lần 2: Ngày 18/9/2023, C cho anh T vay 10.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 1.200.000 đồng nên đưa cho anh T2 8.800.000 đồng. Sau đó C thu thêm được 02 tháng lãi (vào ngày 16/10/2023 và ngày 16/11/2023), mỗi tháng 1.200.000 đồng. Đến ngày 15/12/2023 anh T đã trả lại 10.000.000 đồng tiền gốc cho C.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (10.000.000 x 20%): 12 x 3 = 500.000 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.200.000 x 3 - 500.000 = 3.100.000 đồng.
Lần 3: Khoảng tháng 10/2023 C cho anh T vay 5.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Đến ngày 27/11/2023 anh T đã trả cho C 5.600.000 đồng tiền gồm 5.000.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (5.000.000 x 20%): 12 = 83.333 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 600.000 – 83.333 = 516.667 đồng.
Tổng số tiền lãi anh T1 đã trả cho C là 5.400.000 đồng. Trong đó số tiền lãi được hưởng hợp pháp của Chỉ là: 750.000 đồng. Số tiền C chiếm hưởng bất hợp pháp là: 4.650.000 đồng.
3. Chị Nguyễn Thị H :vay của C tổng 15.000.000 đồng, cụ thể:
Lần 1: Khoảng tháng 9/2023, C cho chị H vay 5.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, Chí cất lại tiền lãi tháng đầu tiên là 600.000 nên đưa cho chị H 4.400.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (5.000.000 x 20%) : 12 = 83.333 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất bất hợp pháp của C là: 600.000 – 83.333 = 516.667 đồng.
Lần 2: Ngày 27/9/2023, C cho chị H vay 5.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 600.000 đưa cho chị H 4.400.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (5.000.000 x 20%): 12 = 83.333 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 600.000 – 83.333 = 516.667 đồng.
Ngày 17/10/2023 chị H trả cho C số tiền 1.200.000 đồng, là tiền lãi tháng tiếp theo của lần vay thứ 1 và lần vay thứ 2.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (10.000.000 x 20%): 12 = 166.667 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.200.000 - 166.667 = 1.033.333 đồng.
Lần 3: Ngày 19/10/2023, C cho chị H vay 2.500.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 300.000 đồng nên đưa cho chị H 2.200.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (2.500.000 x 20%): 12 = 41.667 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 300.000 - 41.667 = 258.333 đồng.
Lần 4: Ngày 29/10/2023 C cho chị H vay 2.500.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 300.000 đồng nên đưa cho chị H 2.200.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (2.500.000 x 20%): 12 = 41.667 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 300.000 - 41.667 = 258.333 đồng.
Sau khi cho chị H vay 15.000.000 đồng, những tháng tiếp theo chị H trả tiền lãi cho C tính theo tổng số tiền đã vay (tiền lãi mỗi tháng là 1.800.000 đồng). Sau đó chị H trả thêm cho C 04 tháng tiền lãi (lần lượt vào các ngày 18/11/2023, 15/12/2023, 15/01/2024 và ngày 06/02/2024).
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (15.000.000 x 20%): 12 x 4 =1.000.000 đồng
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.800.000 x 4 - 1.000.000 = 6.200.000 đồng.
Tổng số tiền lãi chị H đã trả cho C là 10.200.000 đồng. Trong đó số tiền lãi được hưởng hợp pháp của C là: 1.416.667 đồng. Số tiền C chiếm hưởng bất hợp pháp là: 8.783.333 đồng. Hiện nay, chị H còn nợ C 15.000.000 đồng tiền gốc.
4. Anh Nguyễn Xuân Đ1 vay của C 10.000.000 đồng, cụ thể:
Ngày 18/8/2023, C cho anh Đ1 vay 10.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, không cất lại lãi. Sau đó anh Đ1 trả cho C được 06 tháng tiền lãi, mỗi tháng 1.200.000 đồng (lần lượt vào các ngày 16/9/2023, ngày 16/10/2023, ngày 15/11/2023, ngày 15/12/2023, ngày 15/01/2024 và ngày 15/02/2024). Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (10.000.000 x 20%): 12 x 6 = 1.000.000 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.200.000 x 6 - 1.000.000 = 6.200.000 đồng.
Hiện nay, anh Đ1 còn nợ Chí tiền gốc 10.000.000 đồng.
5. Anh Trần Trung Đ2 vay của C 70.000.000 đồng, cụ thể:
Lần 1: Khoảng cuối tháng 9/2023, C cho anh Đ2 vay 20.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 2.400.000 đồng nên đưa cho anh Đ2 17.600.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (20.000.000 x 20%): 12 = 333.333 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 2.400.000 - 333.333 = 2.066.667 đồng.
Lần 2: Khoảng cuối tháng 9/2023, C cho anh Đ2 vay 20.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 2.400.000 đồng nên đưa cho anh Đ2 17.600.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (20.000.000 x 20%): 12 = 333.333 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 2.400.000 – 333.333 đồng = 2.066.667 đồng.
Lần 3: Khoảng đầu tháng 10/2023, C cho anh Đ2 vay 15.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 1.800.000 đồng nên đưa cho anh Đ2 13.200.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (15.000.000 x 20%): 12 = 250.000 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.800.000 - 250.000 =1.550.000 đồng.
Lần 4: Khoảng đầu tháng 10/2023, C cho anh Đ2 vay 15.000.0000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 1.800.000 đồng nên đưa cho anh Đ2 13.200.000 đồng
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (15.000.000 x 20%): 12 = 250.000 đồng
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.800.000 - 250.000 = 1.550.000 đồng.
Sau khi cho anh Đ2 vay tổng số tiền 70.000.000 đồng, những tháng tiếp theo anh Đ2 trả tiền lãi cho C tính theo tổng số tiền đã vay (tiền lãi mỗi tháng là 8.400.000 đồng). Sau đó anh Đ2 trả thêm cho C được 02 tháng tiền lãi.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (70.000.000 x 20%): 12 x 2 = 2.333.333 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 8.400.000 x 2 -2.333.333 = 14.466.667 đồng.
Khoảng giữa tháng 2/2024, anh Đ2 trả Chí 30.000.000 đồng tiền gốc.
Tổng số tiền lãi anh Đ2 đã trả cho C là 25.200.000 đồng. Trong đó số tiền lãi được hưởng hợp pháp là 3.499.999 đồng, số tiền C chiếm hưởng bất hợp pháp là 21.700.001 đồng. Hiện nay, anh Đ2 còn nợ Chí tiền gốc 40.000.000 đồng.
6. Chị Lê Thị H1 vay của C 50.000.000 đồng, cụ thể:
Lần 1: Ngày 03/3/2023, C cho chị H1 vay 5.000.000 đồng, lãi suất 4.667 đồng/1.000.000 đồng/ngày, Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 700.000 nên đưa cho chị H1 4.300.000 đồng. Sau đó chị H1 trả thêm cho C 02 tháng tiền lãi (mỗi tháng 700.000 đồng) vào các ngày 03/4/2023 và ngày 04/5/2023. Đến ngày 15/5/2023 chị H1 trả Chí tiền gốc 5.000.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (5.000.000 x 20%): 12 x 3= 250.000 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 700.000 x 3 - 250.000 = 1.850.000 đồng.
Lần 2: Ngày 24/8/2023, C cho chị H1 vay 10.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 1.200.000 nên đưa cho chị H1 8.800.000 đồng. Sau đó chị H1 trả thêm cho C 05 tháng tiền lãi (mỗi tháng 1.200.000 đồng) vào các ngày 24/9/2023,23/10/2023, 24/11/2023, 04/12/2023 và ngày 24/1/2024. Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (10.000.000 x 20%): 12 x 6 = 1.000.000 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.200.000 x 6-1.000.000 = 6.200.000 đồng.
Lần 3: Ngày 25/9/2023, C cho chị H1 vay 5.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 600.000 nên đưa cho chị H1 4.400.000 đồng. Sau đó chị H1 trả thêm cho C 01 tháng tiền lãi (600.000 đồng) vào ngày 23/10/2023. Đến ngày 24/11/2023 chị H1 trả Chí tiền gốc 5.000.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (5.000.000 x 20%): 12 x 2 = 166.667 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 600.000 x 2 - 166.667 = 1.033.333 đồng.
Lần 4: Ngày 04/12/2023, C cho chị H1 vay 10.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/ 1.000.000 đồng/ngày, Chí cắt lại 2.400.000 đồng (gồm 1.200.000 đồng là tiền lãi tháng đầu tiên của lần vay thứ 4 và 1.200.000 đồng là tiền lãi tháng tiếp theo của lần vay thứ 2) nên đưa cho chị H1 7.600.000 đồng. Sau đó chị H1 trả thêm cho C 02 tháng tiền lãi (mỗi tháng 1.200.000 đồng) vào ngày 19/12/2023 và ngày 20/2/2024. Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (10.000.000 x 20%): 12 x 3= 500.000 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.200.000 x 3 - 500.000 = 3.100.000 đồng.
Lần 5: Ngày 19/12/2023 C cho chị H1 vay 5.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, Chí cắt lại 1.800.000 đồng (gồm 600.000 đồng là tiền lãi tháng đầu tiên của lần vay thứ 5 và 1.200.000 đồng là tiền lãi tháng tiếp theo của lần vay thứ 2) nên đưa cho chị H1 3.200.000 đồng. Sau đó chị H1 trả thêm cho C 02 tháng tiền lãi (mỗi tháng 600.000 đồng) vào ngày 19/01/2024 và ngày 20/2/2024. đồng. Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (5.000.000 x 20%): 12 x 3 = 250.000 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 600.000 x 3 - 250.000 = 1.550.000 đồng.
Lần 6: Ngày 25/12/2023 C cho chị H1 vay 15.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 1.800.000 đồng nên đưa cho chị H1 13.200.000 đồng. Sau đó chị H1 trả thêm cho C 01 tháng tiền lãi (1.800.000 đồng) vào ngày 24/01/2024.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (15.000.000 x 20%): 12 x 2 = 500.000 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.800.000 x 2 - 500.000 = 3.100.000 đồng.
Tổng số tiền lãi chị H1 đã trả cho C là 19.500.000 đồng. Trong đó số tiền lãi được hưởng hợp pháp của C là: 2.666.667 đồng. Số tiền C chiếm hưởng bất hợp pháp là 16.833.333 đồng. Hiện nay, chị H1 còn nợ Chí tiền gốc 40.000.000 đồng.
7. Anh Đặng Văn C2 vay của C 15.000.000 đồng, cụ thể:
Lần 1: Ngày 29/10/2023, C cho anh C2 vay 5.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 600.000 nên đưa cho anh C2 4.400.000 đồng. Sau một tháng, anh C2 trả lại cho C tiền gốc 5.000.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (5.000.000 x 20%): 12 = 83.333 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 600.000 – 83.333 = 516.667 đồng.
Lần 2: Ngày 17/12/2023, C cho anh C2 vay 10.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, Chí cất lại tiến lãi tháng đầu tiên là 1.200.000 nên đưa cho anh C2 8.800.000 đồng. Sau một tháng, anh C2 trả lại cho C tiền gốc 10.000.000 đồng. đồng. Số tiền hưởng hợp pháp của Chỉ là: (10.000.000 x 20%): 12 =166.667 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.200.000 - 166.667 = 1.033.333 đồng.
Tổng số tiền lãi anh C2 đã trả cho C là 1.800.000 đồng. Trong đó số tiền lãi được hưởng hợp pháp là 250.000 đồng, số tiền C chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.550.000 đồng.
8. Anh Dương Văn T1 vay của C 50.000.000 đồng cụ thể:
Lần 1: Khoảng tháng 7/2023 C cho anh T1 vay 15.000.000 đồng với lãi suất 3.333 đồng/1.000.000đồng/ngày, Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 1.500.000 đồng nên đưa cho anh T1 13.500.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (15.000.000 x 20%): 12 = 250.000 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.500.000 - 250.000 =1.250.000 đồng.
Lần 2: Khoảng tháng 7/2023 C tiếp tục vay anh T1 vay 15.000.000 đồng với lãi suất 3.333 đồng/1.000.000đồng/ngày, Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 1.500.000 đồng nên đưa cho anh T1 13.500.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (15.000.000 x 20%): 12 = 250.000 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.500.000 - 250.000 = 1.250.000 đồng.
Sau khi cho anh T1 vay 30.000.000 đồng, những tháng tiếp theo anh T1 trả lãi cho C tính theo tổng số số tiền đã vay (tiền lãi mỗi tháng là 3.000.000 đồng). Sau đó anh T1 trả cho C 04 lần lãi, mỗi lần 3.000.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (30.000.000 x 20%): 12 x 4 = 2.000.000 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: (3.000.000 x 4) - 2.000.000 = 10.000.000 đồng.
Lần 3: Khoảng tháng 11/2023 C tiếp tục cho anh T1 vay 10.000.000 đồng với lãi suất 33.333 đồng/1.000.000đồng/ngày. Chí cắt lại tiền lãi tháng đầu tiên là 1.000.000 đồng. nên đưa cho anh T1 9.000.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (10.000.000 x 20%): 12 = 166.667 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.000.000 - 166.667 =833.333 đồng.
Sau khi cho anh T1 vay 40.000.000 đồng, những tháng tiếp theo anh T1 trả lãi cho C tính theo tổng số tiền đã vay (tiền lãi mỗi tháng là 4.000.000 đồng).
Sau đó anh T1 trả thêm cho Chí 02 tháng lãi.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (40.000.000 x 20%): 12 x 2 = 1.333.333 đồng.
Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 4.000.000 x 2 -1.333.333 - 6.666.667 đồng.
Lần 4: Khoảng cuối tháng 1/2023 C tiếp tục cho anh T1 vay 10.000.000 đồng với lãi suất 3.333 đồng/1.000.000đồng/ngày. Chí cất lại tiền lãi tháng đầu tiên là 1.000.000 đồng nên đưa cho anh T1 9.000.000 đồng.
Số tiền hưởng hợp pháp của C là: (10.000.000 x 20%): 12-166.667 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của C là: 1.000.000 - 166.667 = 833.333 đồng,
Tổng số tiền lãi anh T1 đã trả cho C là 25.000.000 đồng. Trong đó số tiền lãi được hưởng hợp pháp là 4.116.667 đồng, số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 20.883.333 đồng. Hiện nay, anh T1 còn nợ Chí 50.000.000 đồng.
Như vậy :
Tổng số tiền Bùi Như C sử dụng để cho Vũ Hữu D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Xuân Đ1, Trần Trung Đ2, Lê Thị H1, Đặng Văn C2, Dương Văn T1 vay là: 310.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi Bùi Như C đã thu được của 08 người vay nêu trên là 131.300.000 đồng. Trong đó:
+ Tổng số tiền lãi trong mức lãi suất giới hạn 20%/ năm theo quy định của BLDS, Bùi Như C được hưởng khi cho 08 người trên vay tiền là: 18.950.002 đồng.
+ Tổng số tiền lãi vượt quá mức lãi suất giới hạn 20%/ năm, C chiếm hưởng là: 112.349.998 đồng.
Về số tiền gốc 310.000.000 đồng, Bùi Như C sử dụng để cho Vũ Hữu D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Xuân Đ1, Trần Trung Đ2, Lê Thị H1, Đặng Văn C2, Dương Văn T1 vay. Chí đã thu được tổng 115.000.000 đồng (gồm anh D 35.000.000 đồng, anh T 25.000.000 đồng, anh Đ2 30.000.000 đồng, chị Lê Thị H1 10.000.000 đồng, anh C2 15.000.000 đồng).
Số tiền gốc còn lại C chưa thu được là 195.000.000 đồng (gồm anh D 40.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị H 15.000.000 đồng, anh Đ1 10.000.000 đồng, anh Đ2 40.000.000 đồng, chị Lê Thị H1 40.000.000 đồng, anh T1 50.000.000 đồng). Cơ quan điều tra đã yêu cầu tuy nhiên đến nay bị can C, anh D, chị Nguyễn Thị H, anh Đ1, anh Đ2, chị Lê Thị H1, anh T1 chưa giao nộp.
*Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note 9 là phương tiện C sử dụng để liên lạc, giao dịch chuyển, nhận tiền với người khác khi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên C khai quá trình sử dụng đã bị hỏng và làm mất nên không tạm giữ được để xử lý theo quy định.
Số tiền 310.000.000 đồng là tiền gốc C sử dụng cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Trong đó C đã thu về được 115.000.000 đồng còn lại 195.000.000 đồng là tiền gốc anh D, chị Nguyễn Thị H, anh Đ1, anh Đ2, chị Lê Thị H1, anh T1 chưa trả cho C. Cơ quan điều tra đã yêu cầu tuy nhiên đến nay bị can C, anh D, chị Nguyễn Thị H, anh Đ1, anh Đ2, chị Lê Thị H1, anh T1 chưa giao nộp.
Số tiền 112.349.998 đồng, C chiếm hưởng vượt quá mức lãi suất giới hạn 20%/năm. Trong đó C chiếm hưởng của anh D 31.749.998 đồng, anh T2 4.650.000 đồng, chị Nguyễn Thị H 8.783.333 đồng, anh Đ1 6.200.000 đồng, anh Đ2
21.700.001 đồng, chị Lê Thị H1 16.833.333 đồng, anh C2 1.550.000 đồng, anh T1 20.883.333 đồng. Quá trình làm việc, các anh, chị Vũ Hữu D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Xuân Đ1, Trần Trung Đ2, Lê Thị H1, Đặng Văn C2, Dương Văn T1 đề nghị được nhận lại số tiền trên. Cơ quan điều tra đã yêu cầu tuy nhiên đến nay Chí chưa giao nộp.
- Đối với số tiền 18.950.002 đồng là tiền lãi C được hưởng trong mức lãi suất giới hạn 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự nhưng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm, Cơ quan điều tra đã yêu cầu C giao nộp tuy nhiên đến nay Chí chưa giao nộp.
Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 17 tháng 05 năm 2024 của VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Bùi Như C phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử :
- Tuyên bố các bị cáo Bùi Như C phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Căn cứ khoản 2 Điều 201 BLHS điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Bùi Như C từ 09 - 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 18 - 24 tháng; Giao bị cáo cho UBND Phương Định, huyện T, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a,b khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 điều 106 BLTTHS:
- Truy thu sung ngân sách nhà nước từ bị cáo Bùi Như C số tiền 133.950.002 đồng gồm: 115.000.000 đồng tiền gốc bị cáo sử dụng làm công cụ phương tiện phạm tội (bị cáo C đã thu về); 18.950.002 đồng tiền lãi trong mức lãi suất giới hạn 20%/năm theo quy định mà C được hưởng phát sinh từ tội phạm.
- Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 195.000.000 đồng là số tiền những người có quyền, nghĩa vụ liên quan đã vay của bị cáo C nhưng chưa trả gồm : Anh Vũ Hữu D phải nộp 40.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị H phải nộp 15.000.000 đồng; anh Nguyễn Xuân Đ1 phải nộp 10.000.000 đồng; anh Trần Trung Đ2 phải nộp 40.000.000 đồng; chị Lê Thị H1 phải nộp 40.000.000 đồng, anh Dương Văn T1 phải nộp 50.000.000đ.
- Buộc bị cáo Bùi Như C phải trả số tiền 112.349.998 đồng bị cáo C chiếm hưởng vượt quá mức lãi suất giới hạn 20%/năm cho những người có quyền và nghĩa vụ liên quan số tiền thu lợi bất chính gồm: Anh Vũ Hữu D số tiền 31.749.998 đồng; anh Nguyễn Văn T số tiền 4.650.000 đồng; chị Nguyễn Thị Hằng s tiền 8.783.333 đồng, anh Nguyễn Xuân Đ1 số tiền 6.200.000 đồng, anh
Trần Trung Đ2 số tiền 21.700.000 đồng, chị Lê Thị Hằng s1 tiền 16.833.333 đồng, anh Đặng Văn Q số tiền 1.550.000 đồng, anh Dương Văn T1 số tiền 20.883.333 đồng.
Đối trừ các khoản tiền phải truy thu và khoản tiền trả lại cho những người có quyền và nghĩa vụ liên quan và để đảm bảo việc thi hành án buộc:
Truy thu đối với bị cáo Bùi Như C số tiền 240.100.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
Truy thu đối với: Anh Vũ Hữu D phải nộp 8.250.002 đồng; Chị Nguyễn Thị H phải nộp 6.216.667 đồng; Anh Nguyễn Xuân Đ1 phải nộp 3.800.000 đồng; Anh Trần Trung Đ2 phải nộp 18.300.000 đồng; Chị Lê Thị H1 phải nộp 23.166.667 đồng; Anh Dương Văn T1 phải nộp 29.116.667 đồng.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải và xin HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án đều hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai đầy đủ được lưu trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 BLTTHS.
[2] Về quan điểm của Đại diện VKS, các bị cáo tại phần thủ tục tranh tụng: HĐXX thấy việc tranh luận, đối đáp đúng trình tự quy định của pháp luật, các bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình khi tranh tụng và đều giữ nguyên quan điểm tranh tụng. Quan điểm của các bên đã được HĐXX cân nhắc, đánh giá khi nghị án. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Như C được chứng minh bằng lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ như: Các
biên bản lấy lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản lấy lời khai của bị cáo nên có đủ căn cứ để kết luận: Từ tháng 3/2023 đến tháng 2/2024, Bùi Như C đã cho 08 người vay tiền với lãi suất từ 3.333 đồng đến 4.667 đồng/1.000.000 đồng/ngày tương đương với lãi suất từ 120% - 168%/năm, gập từ 6 đến 8,4 lần mức lãi suất BLDS cho phép với tổng số tiền gốc là 310.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi Bùi Như C đã thu được của 08 người vay nêu trên là 131.300.000 đồng. Trong đó: Tổng số tiền lãi trong mức lãi suất giới hạn 20%/ năm theo quy định, Bùi Như C cho 08 người trên vay tiền là: 18.950.002 đồng. Tổng số tiền lãi vượt quá mức lãi suất giới hạn 20%/ năm, C chiếm hưởng là: 112.349.998 đồng. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ trực tiếp xâm hại tới trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về lĩnh vực hoạt động tín dụng, xâm phạm đến lợi ích của công dân - khách thể đã được BLHS ghi nhận và bảo vệ. Mặc dù, biết việc cho vay lãi nặng là trái pháp luật, gây thiệt hại cho người vay và bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì động cơ tư lợi mà bị cáo Bùi Như C vẫn cố ý thực hiện.
HĐXX thấy đã có đủ căn cứ để kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Như C có đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 BLHS.
[5] Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo Bùi Như C không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Khi quyết định hình phạt cũng cần cân nhắc tới tình tiết: Bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tụ nguyện khắc phục một phần hậu quả của tội phạm, có nhân thân tốt, bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ bị cáo có dấu hiệu bệnh trầm cảm, con còn nhỏ (có xác nhận của chính quyền địa phương), bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả cho người có quyền, lợi ích liên quan - Để giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để vừa thể hiện tính nhân đạo, công bằng của pháp luật, vừa đảm bảo tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo.
[7] Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về biện pháp tư pháp: Cần áp dụng điểm a,b khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 điều 106 BLTTHS.
- Truy thu sung ngân sách nhà nước từ bị cáo Bùi Như C số tiền 133.950.002 đồng gồm: 115.000.000 đồng tiền gốc bị cáo sử dụng làm công cụ phương tiện phạm tội (bị cáo C đã thu về); 18.950.002 đồng tiền lãi trong mức lãi suất giới hạn 20%/năm theo quy định mà C được hưởng phát sinh từ tội phạm.
- Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 195.000.000 đồng là số tiền những người có quyền, nghĩa vụ liên quan đã vay của bị cáo C nhưng chưa trả gồm : Anh Vũ Hữu D phải nộp 40.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị H phải nộp 15.000.000 đồng; anh Nguyễn Xuân Đ1 phải nộp 10.000.000 đồng; anh Trần Trung Đ2 phải nộp 40.000.000 đồng; chị Lê Thị H1 phải nộp 40.000.000 đồng, anh Dương Văn T1 phải nộp 50.000.000 .
- Buộc bị cáo Bùi Như C phải trả số tiền 112.349.998 đồng bị cáo C chiếm hưởng vượt quá mức lãi suất giới hạn 20%/năm cho những người có quyền và nghĩa vụ liên quan số tiền thu lợi bất chính gồm: Anh Vũ Hữu D số tiền 31.749.998 đồng; anh Nguyễn Văn T số tiền 4.650.000 đồng; chị Nguyễn Thị Hằng s tiền 8.783.333 đồng, anh Nguyễn Xuân Đ1 số tiền 6.200.000 đồng, anh Trần Trung Đ2 số tiền 21.700.000 đồng, chị Lê Thị Hằng s1 tiền 16.833.333 đồng, anh Đặng Văn Q số tiền 1.550.000 đồng, anh Dương Văn T1 số tiền 20.883.333 đồng.
Đối trừ các khoản tiền phải truy thu và khoản tiền trả lại cho những người có quyền và nghĩa vụ liên quan và để đảm bảo việc thi hành án HĐXX xét thấy:
- Truy thu đối với bị cáo Bùi Như C số tiền 240.100.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
- Truy thu từ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền đã vay của bị cáo C nhưng chưa trả gồm: Anh Vũ Hữu D phải nộp 8.250.002 đồng; Chị Nguyễn Thị H phải nộp 6.216.667 đồng; Anh Nguyễn Xuân Đ1 phải nộp 3.800.000 đồng; Anh Trần Trung Đ2 phải nộp 18.300.000 đồng; Chị Lê Thị H1 phải nộp 23.166.667 đồng; Anh Dương Văn T1 phải nộp 29.116.667 đồng.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử Bùi Như C có đơn xin khắc phục hậu quả và đã thỏa thuận trả lại cho anh Đặng Văn C2 1.550.000đ; trả cho anh Nguyễn Văn T 4.650.000đ, Anh C2, anh T đã nhận và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
[9] Về vật chứng: Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note 9 là phương tiện bị cáo C sử dụng để liên lạc, giao dịch chuyển, nhận tiền với người khác khi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên C khai quá trình sử dụng đã bị hỏng và làm mất nên không thu giữ được để xử lý theo quy định nên HĐXX không xem xét.
[10] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với chị Dương Thảo C1 (là vợ của C) có sử dụng tài khoản ngân hàng T5 số 19035225250013 chuyển tiền cho anh Vũ Hữu D vào các ngày 29/8/2023 và ngày 11/9/2023. Tuy nhiên chị C1 không biết mục đích C nhờ chuyển tiền cho anh D để hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên không phạm tội. HĐXX xét thấy việc cơ quan CSĐT xử lý các hành vi của chị Dương Thảo C1 là đúng quy định pháp luật nên HĐXX không xem xét.
[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; 65 BLHS: Tuyên bố bị cáo Bùi Như C phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt Bùi Như C 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. (Ngày 08/7/2024 - Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 24/02/2024, bị tạm giam từ ngày 04/03/2024 đến ngày 23/04/2024.
Giao bị cáo cho UBND Phương Định, huyện T, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo chuyển nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS, điểm a,b khoản 1 Điều 5 Nghị Quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của HĐTP - TANDTC - Tuyên truy thu sung ngân sách nhà nước đối với :
Bùi Như C 240.100.000 đồng; Vũ Hữu D 8.250.000 đồng. (Đã làm tròn); Nguyễn Thị H 6.216.000 đồng. (Đã làm tròn). Nguyễn Xuân Đ1 3.800.000 đồng; Trần Trung Đ2 18.300.000 đồng; Lê Thị H1 23.166.000 đồng. (Đã làm tròn); Dương Văn T1 29.116.000 đồng. (Đã làm tròn) .
- Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Như C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc được tống đạt Bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thái Hà |
Bản án số 38/2024/HS -ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 38/2024/HS -ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
