Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HS-PT

Ngày 11-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Chiên

Các Thẩm phán: Ông Bùi Xuân Trường, ông Phạm Văn Toàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 36/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Long N và các bị cáo khác do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HSST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Xuân T - sinh ngày 05/01/2006 (tính đến ngày phạm tội là 17 tuổi 05 tháng 02 ngày) tại huyện L, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu A, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc T1 - sinh năm 1971 và bà Trần Thị P - sinh năm 1984; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 38/QĐ-XPHC ngày 03/4/2023 của Công an thị xã P, tỉnh Phú Thọ, xử phạt Nguyễn Xuân T 2.000.000 đồng về hành vi “Ném gạch vào người khác”; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2023/HS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao xử phạt Nguyễn Xuân T 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo kháng cáo. Tại bản án hình sự phúc thẩm số 16/2024/HS-PT ngày 22/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ sửa bản án hình sự sơ thẩm, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 18 tháng tù. Tạm giữ, tạm giam: Tạm giữ từ ngày 09/6/2023 đến 18/6/2023 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam V1 - Cục C6 - Bộ C7 theo quyết định thi hành án số 27/2024/QĐ-THA ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

    (Có mặt)

  2. Phạm Long N - sinh ngày 13/8/2006 (tính đến ngày phạm tội là 16 tuổi 09 tháng 25 ngày) tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Minh K - sinh năm 1980 và bà Hán Thị M - sinh năm 1982; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Tạm giữ từ ngày 12/6/2023 đến 18/6/2023 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú.

    (Có mặt)

  3. Nguyễn Nhật V - sinh ngày 27/10/2006 (tính đến ngày phạm tội là 16 tuổi 07 tháng 11 ngày) tại huyện L, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu E, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Nhật C - sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thúy H - sinh năm 1984; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Tạm giữ từ ngày 09/6/2023 đến 18/6/2023 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú.

    (Có mặt)

Người đại diện cho bị cáo Nguyễn Xuân T: Anh Nguyễn Quốc T1 - sinh năm 1971, địa chỉ: Khu A, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Là bố đẻ của bị cáo Nguyễn Xuân T.

(Có mặt)

Người đại diện cho bị cáo Phạm Long N: Chị Hán Thị M - sinh năm 1982, địa chỉ: Khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Là mẹ đẻ của bị cáo Phạm Long N.

(Có mặt)

Người đại diện cho bị cáo Nguyễn Nhật V: Bà Nguyễn Thị T2 - sinh năm 1955, địa chỉ: Khu E, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Là bà nội của bị cáo Nguyễn Nhật V.

(Có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân T: Bà Hà Thị Lan H1, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P

(Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Long N: Ông Lã Thành C1, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P.

(Vắng mặt)

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Nhật V: Bà Đinh Thị H2, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P.

(Có mặt)

Ngoài ra còn có 17 bị cáo (Trần Ngọc C2, Nguyễn Mạnh C3, Đỗ Duy T3, Hoàng Anh M1, Phạm Nghiệp D, Trần Trí Q, Chu Công T4, Trần T5, Nguyễn Anh D1, Vũ Hồng M2, Nguyễn Minh C4, Phạm Trung H3, Huỳnh Khánh H4, Đặng Quỳnh H5, Dư Thanh T6, Đỗ Thị Ngọc Á và Nguyễn Văn T7) không có kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 30 phút ngày 07/6/2023, Công an huyện T nhận được báo cáo của Công an xã H, huyện T về việc: Hồi 21 giờ 40 phút ngày 07/6/2023, Công an xã H, huyện T nhận được tin báo của anh Đỗ Đình T8 - sinh năm 1972 ở khu A, xã H, huyện T về việc trước cửa nhà anh T8 xuất hiện một nhóm thanh niên khoảng 30 người đi xe máy mang theo hung khí, dùng gạch đá ném vào nhà anh T8. Thấy vậy, anh T8 hô hoán thì người dân chặn đường giữ được hai nam thanh niên gồm: Nguyễn Quang A - sinh năm 2008 ở khu B, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ và Hoàng Trung K1 - sinh năm 2007 ở khu D, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ, trong đó Hoàng Trung K1 bị thương ở đầu phải đưa đi cấp cứu. Tại hiện trường thu giữ 01 chiếc xe mô tô BKS: 29T1-341.30; 01 chai nhựa dung tích 1,5 lít bên trong có chứa xăng, 01 lưỡi dao bằng kim loại có kích thước 33,2cm x 3,6cm; 01 ống tuýp bằng kim loại dài 0,61cm, đường kính 02 cm; 01 viên gạch chỉ màu đỏ.

Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp nhận thụ lý giải quyết vụ việc, ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Ngọc C2, Nguyễn Xuân T, Nguyễn Nhật V, Nguyễn Mạnh C3, Đỗ Duy T3, Phạm Nghiệp D, Trần Trí Q, Hoàng Anh M1.

Quá trình điều tra Chu Công T4, Phạm Long N, Nguyễn Anh D1, Nguyễn Minh C4, Phạm Trung H3 đến Công an huyện T đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Trên cơ sở kết quả điều tra xác định như sau: Do có mẫu thuẫn xích mích nhau về việc tương tác với nhau trên mạng xã hội Facebook giữa Trần Ngọc C2 - sinh ngày 28/7/2006 ở khu T, xã H, thị xã P với nhóm thanh niên thuộc xã H, huyện T, trong đó có Đỗ Đình T9 - sinh ngày 10/7/2005 ở khu 14, xã H, huyện T. C2 có kể lại với bạn là Phạm Long N - sinh ngày 13/8/2006 ở khu 4 xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. C2N có nhắn tin qua tài khoản ứng dụng Facebook cho nhóm thanh niên ở xã H để hẹn thời gian, địa điểm gặp đánh nhau. Khoảng 19 giờ ngày 07/6/2023, N, C2 nhắn tin cho các bạn là Đặng Trần B - sinh ngày 01/10/2007 ở khu 3 xã T; Nguyễn Văn T7 - sinh ngày 03/01/2005 ở khu C, xã X, huyện L; Nguyễn Minh C4 - sinh ngày 01/6/2005; Nguyễn Xuân T - sinh ngày 05/01/2006 ở khu A, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Trương Ngọc S - sinh ngày 07/11/2007 ở khu C, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Chu Công T4 - sinh ngày 26/9/2006 ở khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Phạm Hoài N1 - sinh ngày 03/8/2007 ở khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ rủ đi đánh nhau và dặn các đối tượng rủ thêm bạn của mình tham gia cùng, các đối tượng đều đồng ý.

Nguyễn Xuân T nhắn tin, gọi điện cho Đỗ Duy T3 - sinh ngày 23/4/2006 ở khu A, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Hoàng Trung K1 - sinh ngày 08/6/2007 ở khu D, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ cùng tham gia.

Trương Ngọc S nhắn tin cho Trần T5 - sinh ngày 21/02/2004 ở khu T, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ để rủ T5 cùng tham gia.

Hoàng Trung K1 rủ thêm Nguyễn Tiến Q1 - sinh ngày 18/6/2007 ở khu B, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Quang A - sinh ngày 26/5/2008 ở khu B, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Đức T10 - sinh ngày 02/01/2008 ở khu A, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Trần Trí Q - sinh ngày 25/10/2006 ở khu A, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ để cùng tham gia.

Nguyễn Tiến Q1 rủ thêm Nguyễn Mạnh C3 - sinh ngày 17/3/2007 ở khu B, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ tham gia cùng.

Trần Trí Q nhắn tin, gọi điện rủ thêm Hoàng Anh M1 - sinh ngày 15/7/2006 ở khu E, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Phạm Nghiệp D - sinh ngày 30/10/2006 ở khu G, xã T, huyện L và Đào Xuân D2 - sinh ngày 25/7/2008 ở khu D, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ cùng tham gia.

Đặng Trần B rủ thêm Phạm Trung H3 - sinh ngày 21/12/2004 ở khu D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ tham gia cùng.

Phạm Long N nói chuyện với Đặng Quỳnh H5 - sinh ngày 17/9/2006 ở khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ vào ngày 06/6/2023, H5 đồng ý đi cùng. Đến tối ngày 07/6/2023, N nhắn tin, gọi điện nhưng H5 không nghe máy. Sau đó N đi đến khu vực Đền P1 thuộc xã H thì gặp H5; Huỳnh Khánh H4 - sinh ngày 22/6/2006, Dư Thanh T6 - sinh ngày 04/4/2006, Đỗ Thị Ngọc Á - sinh ngày 19/4/2005 đều ở khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ đang đứng chơi tại đây. Nhật đã rủ H5, H4, T6, Á đi chơi cùng. Khi đi ra đến khu vực cầu N, cả nhóm nhìn thấy nhóm thanh niên đang tập trung nhiều thanh niên, nhiều xe mô tô, thấy có nhiều hung khí là dao phóng, gậy cả nhóm Á, T6, H5, H4 biết là nhóm thanh niên đang chuẩn bị đi đánh nhau nhưng vẫn tham gia cùng.

Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm tập trung tại khu vực cây xăng thuộc xã X, huyện L, khu vực cổng trường Mầm non xã H và khu vực đầu cầu N để cùng đi đánh nhau với nhóm thanh niên ở xã H, một số người khác chuẩn bị hung khí gồm: dao phóng lợn, dao quắm, chai xăng, gậy gỗ.., tập kết tất cả các hung khí ở đầu cầu N. Khoảng 21 giờ cùng ngày, tại khu vực đầu cầu N, Trần Ngọc C2 hô to hiệu lệnh để tất cả nhóm cùng đi, C2 hô to để mọi người cùng nghe thấy. Cả nhóm hiểu ý, tự ghép các xe mô tô để lai nhau, tự cầm theo hung khí được mọi người trong nhóm đem đến tập hợp tại đầu cầu N và di chuyển theo xe của C2. Xác định trên các xe mô tô có các đối tượng tham gia đi đến xã H để đánh nhau, gồm:

Trần Ngọc C2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vison mang biển kiểm soát: 19N1 - 286.05 chở Nguyễn Minh C4 ngồi giữa, Lê Hoàng T11 ngồi sau cầm theo 01 dao tự chế (dao phóng lợn).

Đỗ Anh Đ điều khiển xe Hoanda Wave không rõ biển kiểm soát chở Nguyễn Anh D1 ngồi sau cầm theo 01 thanh tuýp bằng kim loại dài khoảng 1,5 mét.

Vũ Hồng M2 điều khiển xe mô tô mang BKS: 19AP-018.35 chở Nguyễn Xuân TNguyễn Văn T7 ngồi sau cầm theo 01 dao tự chế (dao phóng lợn).

Phạm Long N điều khiển xe mô tô mang BKS: 19N1-313.39 chở Chu Công T4 ngồi sau cầm theo 01 dao quắm dài khoảng 01 mét.

Đỗ Duy T3 điều khiển xe mô tô BKS: 19L2-4840 chở Trần T5 ngồi sau, khi đi đến gần Công ty M4 thì Trần T5 xuống nhặt một cây bạch đàn khô dài khoảng 03 mét để làm hung khí, nhưng đi được một đoạn thì T5 vứt đi.

Phạm Nghiệp D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 88B1-248.07 chở Trần Trí Q ngồi giữa, Hoàng Anh M1 ngồi sau cùng không mang theo hung khí.

Nguyễn Nhật V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 19S1-321.49 chở Đào Xuân D2, Nguyễn Đức T10 ngồi phía sau, đi gần đến Công ty may thì T10 xuống lấy 02 đoạn gỗ ở ven đường.

Đặng Trần B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 19N1-312.23 chở Phạm Trung H3 ngồi sau không mang theo hung khí.

Phạm Al Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 19E1-323.21 chở Trương Ngọc S ngồi sau cầm theo 01 dao quắm.

Nguyễn Quang A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29T1-341.30 chở Hoàng Trung K1 ngồi giữa và một nam thanh niên chưa rõ danh tính cầm theo một con dao quắm.

Nguyễn Mạnh C3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 19S1-037.82 chở Nguyễn Tiến Q1.

Huỳnh Khánh H4 điều khiển xe mô tô loại Exciter chở Đặng Quỳnh H5 không mang theo hung khí.

Dư Thanh T6 điều khiển xe mô tô loại xe Honda Wave màu đen mang BKS: 19N1-332.14 chở Đỗ Thị Ngọc Á không mang theo hung khí.

Ngoài ra còn một số đối tượng khác tham gia có mang theo hung khí, gồm: Nguyễn Việt H6 - sinh ngày 03/01/2007 ở khu C, xã X, huyện L; Trần Quang Đ1 - sinh ngày 11/12/2007 ở khu H, xã H, thị xã P; Lê Hoàng T11 - sinh ngày 10/10/2007 ở khu C, xã C, V.

Nhóm thanh niên này đi qua cầu N sang địa phận huyện T, đi theo đường huyện lộ 70 đến xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Trên đường đi, cả nhóm không ai đội mũ bảo hiểm, đi dàn hàng ngang từ 3 đến 4 hàng trên đường, lạng lách, đánh võng, phóng nhanh, vượt ẩu, hò hét, cầm hung khí nguy hiểm như dao phóng giơ lên làm những người tham gia giao thông khác và những hộ dân ven đường hoảng sợ. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm thanh niên này đi đến khu vực tuyến đường huyện lộ 70 thuộc khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Khi cả nhóm đi gần đến cổng Công ty M4 thuộc xã H thì Trần T5 đã xuống xe rồi lấy tại lề đường một cây bạch đàn khô dài khoảng 03 mét để làm hung khí đi đánh nhau, di chuyển được một đoạn thì T5 vứt cây bạch đàn vừa lấy được đi do nặng quá. Các đối tượng di chuyển qua cổng Công ty M4 khoảng 200 mét thuộc địa phận khu 14, xã H, đây là khu vực đông dân cư đồng bào công giáo sinh sống. Lúc này có một nhóm nam thanh niên khác (Hiện chưa xác định được) đứng ở hai bên đường dùng gạch đá ném vào nhóm thanh niên do C2 cầm đầu. Sau khi đi qua thì nhóm thanh niên này quay lại hò hét chửi bới và dùng gậy, gạch, đá, dao phóng lợn, dao quắm dồn đuổi đánh nhóm thanh niên đứng tại xã H lúc trước ném gạch đá làm náo loạn, những hộ dân sinh sống tại khu vực đó sợ hãi và hoang mang. Trong quá trình dồn đuổi đánh nhau hỗn loạn thì Hoàng Trung K1 bị thương ở vùng đầu phải đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện H9, thành phố Hà Nội. Vũ Hồng M2 bị thương ở cánh tay phải (gãy tay) phải đi điều trị tại Trung tâm y tế huyện L, tỉnh Phú Thọ. Đến nay đều ra viện và sức khỏe ổn định. Ngày 05/9/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định Trưng cầu giám định thương tích và tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với K1M2, nhưng K1M2 cùng gia đình từ chối giám định và có đơn xin từ chối giám định thương tích, không đề nghị xử lý đối với những người gây ra thương tích cho K1M2.

Quá trình điều tra, gia đình Trần T5 có cung cấp thông tin về việc T5 có sự hạn chế về nhận thức, có biểu hiện của người bị tâm thần, ngày 04/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định Trưng cầu giám định, Trưng cầu Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc để giám định nội trú pháp y tâm thần đối với Trần T5. Ngày 29/8/2023, Trung tâm P2 tâm thần khu vực miền núi phía Bắc có kết luận giám định pháp y tâm thần số 137/KLGĐ, kết luận:

  • “1. Trần T5 - sinh năm: 2004, trú tại khu T, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ bị bệnh Động kinh không có rối loạn Tâm thần, có mã G40.
  • 2. Tại thời điểm ngày 07/6/2023, Trần T5 bị bệnh Động kinh không có rối loạn Tâm thần. Trần Tiến đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
  • 3. Hiện tại (tại thời điểm giám định) Trần T5 bị bệnh Động kinh không có rối loạn Tâm thần. Trần Tiến đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.”

Về phương tiện: Quá trình điều tra làm rõ, 11 chiếc xe mô tô mà các đối tượng sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi vi phạm đều là tài của gia đình các bị cáo, các gia đình các bị cáo đều không biết các đối tượng sử dụng xe để làm phương tiện thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tra cứu, kết quả là: Các xe mô tô đều không nằm trong hệ thống xe vật chứng, xe đều có đầy đủ giấy tờ đăng ký theo quy định.Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển hành vi vi phạm về an toàn giao thông đến Công an huyện T để xử lý theo quy định, đồng thời ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại 11 chiếc xe trên cho các chủ sở hữu.

Một số hung khí như dao phóng, tuýp sắt, gậy... các đối tượng sử dụng trong quá trình gây rối trật tự công cộng, có lời khai của các đối tượng và hình ảnh trong dữ liệu Camera của Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ được trong quá trình giải quyết vụ án, sau khi bị lực lượng Công an phát hiện, các đối tượng bỏ chạy và vứt bỏ hung khí trên đường, không tìm thấy được. Một số phương tiện (xe mô tô) các đối tượng sử dụng, nhưng sau đó gia đình không biết nên đã bán lại cho người khác.

Đối với Đặng Trần B, Trương Ngọc S, Đào Xuân D2, Nguyễn Đức T10, Hoàng Trung K1, Nguyễn Quang A, Phạm Anh Q2, Nguyễn Tiến Q1, Đỗ Anh Đ, Lê Hoàng T11, Phạm Hoài N1, Lê Văn C5 có hành vi cùng với các bị cáo gây rối trật tự công cộng nhưng tính đến thời điểm ngày 07/6/2023 là chưa đủ 16 tuổi. Cơ quan điều tra đã chuyển đến Công an huyện T để xử lý vi phạm hành chính theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ.

Đối với Đỗ Anh T12 - sinh ngày 23/4/2007 ở khu D, xã C, thành phố V được Nguyễn Minh C4 rủ đi đánh nhau, T12 có điều khiển xe mô tô loại Honda Wave loại xe 50cc, màu đen, có biển kiểm soát 19AA-049.21 của gia đình, trên đường đi đến cầu N, T12 điều khiển xe đi một mình cầm 01 dao phóng lợn, đến gần cầu N thì T12 vứt dao phóng ở ven đường, thấy mọi người tập trung đông để đi đánh nhau thì T12 quay về không tham gia đi cùng.

Đối với các đối tượng Nguyễn Việt H6, Trần Quang Đ1 đã triệu tập nhiều lần nhưng chưa triệu tập được, chưa làm rõ được hành vi gây rối trật tự công cộng của các đối tượng.

Đối với nhóm thanh niên xuất hiện tại xã H sử dụng gạch đá ném nhóm thanh niên trên, hiện chưa xác minh làm rõ được.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành rà soát Camera an ninh có ghi lại hình ảnh các đối tượng thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, đã trích xuất được dữ liệu từ Camera an ninh của gia đình anh Bùi Vỹ T13 - sinh năm 1996 ở khu A, xã H; dữ liệu từ Camera an ninh của xã T, huyện T, có hình ảnh, âm thanh ghi lại hành vi của các đối tượng ngày 07/6/2023. Cơ quan cảnh sát điều tra đã khai thác dữ liệu, với thành phần tham gia có các bị cáo, xác nhận hành vi gây rối trật tự của cả nhóm ngày 07/6/2023.

Quá trình các đối tượng ném gạch đá, đập phá có ném gạch đá trúng bức tường phía trước nhà của gia đình chị Trần Thị H7 - sinh năm 1971 ở khu A, xã H, huyện T (là mẹ của Đỗ Đình T9), chị H7 xác định không có thiệt hại gì nên không đề nghị gì về bồi thường dân sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HSST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Long NNguyễn Xuân T.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Nhật V.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 25 (Hai mươi lăm) tháng tù. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 09/6/2023 đến ngày 18/6/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo Phạm Long N 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 12/6/2023 đến ngày 18/6/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật V 18 (Mười tám) tháng tù. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 09/6/2023 đến ngày 18/6/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định hình phạt tù đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 04/3/2024, bị cáo Phạm Long N có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Lý do kháng cáo là Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt mức án tù là không phù hợp với hành vi thực hiện. Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo N đã nộp tiền ủng hộ quỹ vì người nghèo, nộp giấy xác nhận của UBND xã về việc cư trú của bị cáo.

Ngày 08/3/2024, bị cáo Nguyễn Nhật V có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Lý do kháng cáo là Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt mức án tù là không phù hợp với hành vi thực hiện. Bị cáo nộp tài liệu kèm theo đơn kháng cáo gồm phiếu thu tiền ủng hộ quỹ vì người nghèo năm 2024; giấy xác nhận của Uỷ ban mặt trận tổ quốc Việt Nam xã X về việc Nguyễn Nhật V nộp tiền ủng hộ quỹ vì người nghèo; giấy chứng nhận thương binh của ông Nguyễn Xuân M3 là ông ngoại của bị cáo; giấy xác nhận của UBND xã về việc cư trú của bị cáo.

Ngày 13/3/2024, bị cáo Nguyễn Xuân T có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt với mức án thấp nhất. Lý do kháng cáo là bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phải chịu tình tiết tăng nặng nào, khi thực hiện hành vi phạm tội là người chưa thành niên nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt mức án tù là quá cao.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo không thay đổi, bổ sung kháng cáo, không rút đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân T; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Long NNguyễn Nhật V. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HSST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Xuân T; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HSST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ về hình phạt đối với bị cáo Phạm Long NNguyễn Nhật V.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân T.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 138; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 và khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Long NNguyễn Nhật V.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 25 (Hai mươi lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 09/6/2023 đến ngày 18/6/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo Phạm Long N 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 (Năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật V 18 (Mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Giao các bị cáo Phạm Long NNguyễn Nhật V cho UBND xã nơi các bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã nơi cư trú trong việc giám sát và giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo Phạm Long N, Nguyễn Nhật V thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm c, h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Phạm Long NNguyễn Nhật V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân T là bà Hà Thị Lan H1 trình bày:

Khoảng 21 giờ ngày 07/6/2023 tại khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, bị cáo T cùng với một số bị cáo đã thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xét xử về tội gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự thì bà hoàn toàn nhất trí. Bị cáo T là người chưa thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 91 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Nhật V là bà Đinh Thị H2 trình bày: Khoảng 21 giờ ngày 07/6/2023 tại khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, bị cáo V cùng với một số bị cáo đã thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xét xử về tội gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự thì bà hoàn toàn nhất trí. Tại cơ quan cảnh sát điều tra và tài phiên tòa các cấp, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi xét xử sơ thẩm thì bị cáo đã nộp tiền ủng hộ quỹ người nghèo năm 2024, bị cáo có ông ngoại Nguyễn Xuân M3 là thương binh, ngoài lần thực hiện hành vi phạm tội này thì bị cáo không thực hiện hành vi phạm tội nào khác hoặc vi phạm hành chính gì; bị cáo khi thực hiện hành vi là vai trò giúp sức, không gây hậu quả gì; bị cáo là người chưa thành niên có nơi cư trú rõ ràng đã được UBND xã nơi cư trú xác nhận, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 và khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất và được hưởng án treo để bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Long N là ông Lã Thành C1 vắng mặt tại phiên tòa, đã có bản trình bày như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 07/6/2023 tại khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, bị cáo N cùng với một số bị cáo đã thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xét xử về tội gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự thì ông hoàn toàn nhất trí. Tại cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi xét xử thì bị cáo đã nộp tiền ủng hộ quỹ người nghèo; ngoài lần thực hiện hành vi phạm tội này thì bị cáo không thực hiện hành vi phạm tội nào khác hoặc vi phạm hành chính gì; bị cáo khi thực hiện hành vi với vai trò là giúp sức, không gây hậu quả gì; bị cáo là người chưa thành niên có nơi cư trú rõ ràng đã được UBND xã nơi cư trú xác nhận, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 và khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất và được hưởng án treo để bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Người đại diện cho bị cáo Nguyễn Xuân T là anh Nguyễn Quốc T1 trình bày: Anh không có ý kiến gì về xét xử đối với bị cáo T. Anh không trình bày bổ sung gì về trình bày của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo. Bị cáo là người chưa thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và được cải tạo ngoài xã hội.

Người đại diện cho bị cáo Phạm Long N là chị Hán Thị M trình bày: Chị không có ý kiến gì về xét xử bị cáo N, chị không trình bày bổ sung gì về trình bày của Trợ giúp pháp lý bào chữa cho bị cáo N. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và được cải tạo ngoài xã hội, trong thời gian cải tạo ngoài xã hội thì chị cam kết là cùng với bị cáo thực hiện tốt các quy định của pháp luật.

Người đại diện cho bị cáo Nguyễn Nhật V là bà Nguyễn Thị T2 trình bày: Bà không có ý kiến gì về xét xử bị cáo V. Bị cáo là người chưa thành niên, bố mẹ của bị cáo N thường xuyên bị ốm đau, công việc thì không ổn định nên kinh tế gia đình gặp khó khăn. Bị cáo V thực hiện hành vi phạm tội là do bạn bè rủ, do thiếu hiểu biết nên đã thực hiện theo. Rất mong Hội đồng xét xử xem xét tạo điều kiện cho bị cáo N được giảm mức án xuống thấp nhất và được cải tạo ngoài xã hội. Gia đình xin hứa là tiếp tục dạy bảo bị cáo N sống có ích cho gia đình và xã hội, chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Khi Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xét xử và tuyên án thì các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án thì các bị cáo Phạm Long N, Nguyễn Xuân TNguyễn Nhật V kháng cáo bản án. Căn cứ khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo Phạm Long N, Nguyễn Xuân TNguyễn Nhật V kháng cáo đúng thời hạn nên được xem xét, giải quyết.

[2] Về hành vi thực hiện của các bị cáo: Tại phiên tòa hình sự sơ thẩm và phúc thẩm, các bị cáo Phạm Long N, Nguyễn Xuân TNguyễn Nhật V khai nhận hành vi thực hiện phạm tội như sau:

Trần Ngọc C2 và nhóm thanh niên ở xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ xẩy ra mâu thuẫn nên Trần Ngọc C2 nói với Phạm Long N về việc mâu thuẫn này và rủ thêm người để đi đánh nhóm thanh niên ở xã H. C2N đã liên lạc với Đặng Trần B, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Minh C4, Nguyễn Xuân T, Trương Ngọc S, Chu Công T4Phan Hoài N2 để đi đánh nhóm thanh niên ở xã H. Sau đó Nguyễn Xuân T rủ Hoàng Trung K1, Trương Ngọc S rủ Trần Văn T14, Đặng Trần B rủ Phạm Trung H3 đi đánh nhóm thanh niên ở xã H, ngoài ra còn có một số người tự rủ người khác cùng tham gia đi đánh nhóm thanh niên ở xã H nhưng không biết cụ thể là ai rủ. Buổi tối ngày 07/6/2023 tại Đền P1, xã H, N gặp Đặng Hương Q3, Huỳnh Khánh H4, Dư Thanh T6Đỗ Thị Ngọc Á nên tất cả cùng đến cầu N. Khi đến thì thấy một số người đang đứng ở đó và cầm dao, gậy, tuýp sắt ... Khoảng từ 20 giờ đến 21 giờ 40 phút ngày 07/6/2023, Trần Ngọc C2 cùng với Nguyễn Xuân T, Nguyễn Nhật V, Nguyễn Mạnh C3, Đỗ Duy T3, Hoàng Anh M1, Phạm Nghiệp D, Trần Chí Q4, Phạm Long N, Chu Công T4, Trần T14, Nguyễn Anh D1, Vũ Hồng M2, Nguyễn Minh C4, Phạm Trung H3, Huỳnh Khánh H4, Đặng Quỳnh H5, Dư Thanh T6, Đỗ Thị Ngọc Á, Nguyễn Văn T7 và một số người dưới 16 tuổi tập trung ở cầu N rồi điều khiển xe mô tô trên tuyến đường huyện lộ 70 đến khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ để đánh nhau với nhóm thanh niên của xã H. Khi di chuyển các xe đi dàn hàng ngang từ 3 - 4 hàng với tốc độ nhanh, lạng lách, hò hét; tất cả không ai đội mũ bảo hiểm; các xe chở người ngồi đằng sau tay cầm dao phóng, tuýp sắt, gậy, gạch ... nên đã làm nhiều người tham giao thông khác và các hộ dân sống ven đường hoảng sợ.

Khi đến khu A, xã H, huyện T thì gặp nhóm thanh niên xã H nên dừng xe lại để nhặt gạch, hai bên đã ném gạch, đá vào nhau. Hậu quả Hoàng Trung K1 bị thương tích vùng đầu; gia đình nhà chị Trần Thị H7 ở gần đó bị gạch, đá ném vào tường và cửa nhà; các hộ dân sống ở đó thì hoảng sợ nên đã báo gọi Công an đến giải quyết.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HSST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông đã tuyên bố các bị cáo Phạm Nhật L, Nguyễn Xuân TNguyễn Nhật V phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo nhận thức được hành vi gây rối trật tự công cộng là vi phạm pháp luật, Tòa án nhân dân huyện Tam Nông đã xét xử đúng người, đúng tội nên các bị cáo không kháng cáo về tội danh. Vì vậy Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét về tội danh.

[3] Về nội dung kháng cáo: Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HSST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xử phạt Phạm Long N 27 tháng tù, Nguyễn Xuân T 25 tháng tù, Nguyễn Nhật V 18 tháng tù. Bị cáo NV kháng cáo xin được hưởng án treo, bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy các bị cáo T, NV đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo N đến Cơ quan cảnh sát điều tra đầu thú; bị cáo T có ông bà nội được tặng thưởng H8, Huy chương kháng chiến nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với từng bị cáo. Khi quyết định hình phạt thì Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các quy định của pháp luật, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và vai trò của từng bị cáo, xử phạt bị cáo N 27 tháng tù, bị cáo T 25 tháng tù, bị cáo V 18 tháng tù là phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào, mặc dù bị cáo là người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội nhưng trong khoảng một thời gian ngắn thì bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội và vi phạm hành chính, hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam V1 - Cục C6 - Bộ C7 nên nhân thân của bị cáo là xấu. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bào chữa cho bị cáo T đề nghị xử phạt bị cáo T với mức án nhẹ hơn cấp sơ thẩm đã xét xử là không phù hợp. Vì vậy, lý do kháng cáo của bị cáo T không có căn cứ nên không được chấp nhận, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HSST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông về hình phạt đối với bị cáo T.

Đối với bị cáo NV: Sau khi xét xử sơ thẩm thì bị cáo N đã nộp tiền ủng hộ quỹ vì người nghèo, bị cáo V nộp tiền ủng hộ quỹ vì người nghèo và nộp giấy tờ về việc ông ngoại của bị cáo là thương binh nên bị cáo NV được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đây là tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm so với cấp sơ thẩm. Xét thấy nhân thân của bị cáo NV là tốt, có nơi cư trú rõ ràng được UBND xã nơi cư trú xác nhận; khi thực hiện hành vi phạm tội là người chưa thành niên, lần phạm tội này là lần đầu và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Hình sự, nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội là nhằm giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội nên không cần cách ly bị cáo NV ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần xử phạt tù cho hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo NV trở thành công dân tốt. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bào chữa cho bị cáo NV đề nghị cho bị cáo NV được cải tạo ngoài xã hội là có căn cứ. Vì vậy, lý do kháng cáo của bị cáo NV là có căn cứ được chấp nhận nên sửa bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HSST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông về hình phạt đối với bị cáo Phạm Long NNguyễn Nhật V.

[4] Án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của các bị cáo Phạm Long NNguyễn Nhật V được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HSST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ về giải quyết vụ án là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân T; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Long NNguyễn Nhật V. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HSST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Xuân T; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HSST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ về hình phạt đối với bị cáo Phạm Long NNguyễn Nhật V.

  2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân T.

    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 và khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Long NNguyễn Nhật V.

    1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 25 (Hai mươi lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 09/6/2023 đến ngày 18/6/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
    2. Xử phạt bị cáo Phạm Long N 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 (Năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

      Giao bị cáo Phạm Long N cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Phạm Long N có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

      Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật V 18 (Mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

      Giao bị cáo Nguyễn Nhật V cho UBND xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Nhật V có trách nhiệm phối hợp với UBND xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

      Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm c, h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

    Bị cáo Phạm Long NNguyễn Nhật V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết khác của bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HSST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND huyện Tam Nông;
  • - VKSND huyện Tam Nông;
  • - Công an huyện Tam Nông;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Nông;
  • - UBND xã Xuân Huy, H.Lâm Thao;
  • - UBND xã Thanh Uyên, H.Tam Nông;
  • - Trợ giúp viên pháp lý;
  • - Bị cáo và người đại diện của bị cáo;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Nguyễn Khắc Chiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HS-PT ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự phúc thẩm (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 38/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo phạm tội gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger