Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BUÔN HỒ

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST

Ngày 31-7-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HÒ, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Khanh.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Ngọc Khánh và ông Hứa Quang Hồng.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Từ Quốc Quyền - Kiểm sát viên.

Ngày 31/7/2024, tại Phòng xử án, Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 84/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/6/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993 – vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn F, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn: Anh Phạm Đức N, sinh năm 1990 – vắng mặt.

Địa chỉ: Số D đường A, tổ dân phố F, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày có nội dung: Chị và anh Phạm Đức N tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 22/6/2023. Sau khi kết hôn được một thời gian thì giữa hai anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra bất đồng quan điểm, xung đột lẫn nhau. Dần dần hai vợ chồng không còn tình cảm với nhau, hiện mâu thuẫn giữa chị và anh N không thể hàn gắn được. Vì vậy chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh N.

Về con chung, chị và anh N có 01 người con chung là cháu Phạm Ngọc L, sinh ngày 13/01/2024. Khi ly hôn, chị yêu cầu giao con chung cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên. Lý do là chị H hiện tại không có đủ khả năng kinh tế và không đủ sức khỏe để nuôi dạy con.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.

Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai, bị đơn anh Phạm Đức N trình bày: Về quan hệ hôn nhân, anh và chị Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật trên cơ sở tự nguyện tại UBND phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk ngày 22/6/2023. Quá trình chung sống hạnh phúc được khoảng 06 tháng thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị bất đồng về quan điểm sống, kinh tế trong gia đình. Nay chị H yêu cầu Toà án giải quyết cho anh chị ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung, quá trình chung sống, vợ chồng anh có 01 người con chung là Phạm Ngọc L, sinh ngày 13/01/2024. Cháu L chưa đủ 36 tháng tuổi theo quy định là phải giao cháu L cho mẹ là chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, tuy nhiên chị Nguyễn Thị H không có trách nhiệm đối với cháu L, kinh tế của chị H cũng không đảm bảo để trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu L. Vì vậy, anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phạm Ngọc L, sinh ngày 13/01/2024 cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh và chị H tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung, anh và chị H tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H về quan hệ hôn nhân, về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về trình tự thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phạm Đức N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk ngày 22/6/2023. Sau khi kết hôn chị H và anh N sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, do bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.

Kết quả xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị H và anh N thì địa phương xác định: Anh N và chị H hiện đã sống ly thân được 04 tháng.

Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N có xảy ra mâu thuẫn, đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị H có yêu cầu giải quyết cho vợ chồng chị được ly hôn và anh N cũng đồng ý ly hôn. Do đó việc giải quyết cho chị H ly hôn anh N là phù hợp với khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4.2] Về con chung: Quá trình chung sống, chị H và anh N có 01 người con chung là Phạm Ngọc L, sinh ngày 13/01/2024. Khi ly hôn, chị H yêu cầu giao cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên. Hội đồng xét xử thấy rằng: Yêu cầu giải quyết về con chung của chị H là phù hợp với ý kiến của anh N; phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương về việc con chung hiện nay đang ở với anh N và ông bà nội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, giao cho anh N được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Phạm Ngọc L, sinh ngày 13/01/2024 cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên là phù hợp Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H và anh N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4.4] Về tài sản: Chị H và anh N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Xét quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp với Điều 144, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 144; Điều 147; khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Phạm Đức N.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Ngọc L, sinh ngày 13/01/2024 cho anh Phạm Đức N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.
  3. Chị Nguyễn Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
  4. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Đức N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  5. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Đức N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  6. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001450 ngày 17/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ.
  7. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND thị xã Buôn Hồ;
  • - CCTHADS thị xã Buôn Hồ;
  • - UBND phường An Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Văn Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 38/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Đức N tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 22/6/2023. Sau khi kết hôn được một thời gian thì giữa hai anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra bất đồng quan điểm, xung đột lẫn nhau. Dần dần hai vợ chồng không còn tình cảm với nhau, hiện mâu thuẫn giữa chị và anh N không thể hàn gắn được. Vì vậy chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger