Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST

Ngày 23 - 5-2024

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Hiền;

Bà Nguyễn Thị Thêu

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 57/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lưu Thị L, sinh năm 1994; Đăng ký HKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình

Nơi ở hiện nay: Thôn N, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Anh Phạm Đình C, sinh năm 1990; Đăng ký HKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Hiện anh C đang lao động tại Nhật Bản.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn - chị Lưu Thị L trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 15/11/2018 tại Ủy ban Nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên vợ chồng chị chỉ chung sống được 03 tháng thì anh C đi lao động ở Nhật Bản. Thời gian đầu anh C mới sang Nhật Bản, vợ chồng chị vẫn liên lạc, nhưng sau đó do quan điểm, tính tình không hợp nên vợ chồng chị thường xuyên cãi nhau, và dần dần không liên lạc quan tâm nhau nữa. Chị L đã nhiều lần tìm cách để vợ chồng hàn gắn nhưng vợ chồng chị vẫn không tìm được tiếng nói chung. Nay chị L xác định vợ chồng chị sống ly thân đã lâu, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh C.

+ Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Phạm Đình Anh V; sinh ngày 27/12/2019. Hiện nay con chung đang do bố mẹ anh C trực tiếp nuôi dưỡng, con chung được học tập đầy đủ, phát triển tốt. Ly hôn chị L đề nghị Tòa án giao con chung cho anh C nuôi dưỡng để cháu V tiếp tục được ông bà nội chăm sóc.

+ Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn – anh Phạm Đình C gửi văn bản (có xác nhận của Tổng lãnh sự quán của Việt Nam tại Nhật Bản) trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, điều kiện và hoàn cảnh kết hôn của anh và chị L đúng như chị L đã trình bày. Anh C xác định quá trình chung sống vợ chồng anh không hạnh phúc, quá trình anh đi lao động tại Nhật Bản vợ chồng anh không tìm được tiếng nói chung. Anh C xác định vợ chồng anh không còn tình cảm, không muốn duy trì hôn nhân nên anh C đồng ý ly hôn chị L.

+ Về con chung: Vợ chồng anh có một con chung là Phạm Đình Anh V, sinh ngày 27/12/2019, hiện tại con chung đang do bố mẹ anh C nuôi dưỡng. Do cuộc sống hiện nay của cháu V đang ổn định, cháu V được học tập, chăm sóc, phát triển tốt nên đề nghị Tòa án giao con chung cho anh nuôi dưỡng, để anh C nhờ bố mẹ anh nuôi cháu V trong quá trình anh đi lao động ở Nhật Bản. Anh C không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung, nợ chung : Vợ chồng anh không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Đình Đ – bố đẻ của anh Phạm Đình C có đơn đề ngày 25/4/2024 đề nghị được nuôi cháu nội Phạm Đình Anh V, sinh ngày 27/12/2019 trong thời gian anh Phạm Đình C đi lao động tại Nhật Bản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Xét thấy, anh Phạm Đình C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Hiện nay anh C đang lao động tại Nhật Bản, có xác nhận của tổng lãnh sự quán của nước Việt Nam tại Nhật Bản. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị L và anh Phạm Đình C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Qua lời trình bày của chị L và anh C đều thể hiện hôn nhân của anh chị có nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù anh chị cũng đã tìm cách để hàn gắn nhưng không được, dẫn đến chị L kiên quyết xin ly hôn, anh C đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử thấy hôn nhân của anh chị đã căng thẳng trầm trọng, có duy trì cũng không mang lại hạnh phúc. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử cho anh chị ly hôn là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Chị L và anh C có 01 con chung là Phạm Đình Anh V, sinh ngày 27/12/2019. Hiện nay con chung đang do bố mẹ anh C nuôi dưỡng. Con chung được học tập và phát triển tốt. Chị L đề nghị Tòa án giao con chung cho anh C nuôi dưỡng, anh C có nguyện vọng được nuôi con chung, bố mẹ anh C có nguyện vọng được nuôi cháu nội trong thời gian anh C đi lao động tại Nhật Bản. Hội đồng xét xử xét thấy hiện tại con chung được học tập, chăm sóc, phát triển tốt nên cần giao con chung cho anh C nuôi dưỡng là phù hợp. Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh C xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[2.4] Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[2.5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lưu Thị L được ly hôn anh Phạm Đình C.
  2. Về nuôi con chung: Xử giao cho anh Phạm Đình C trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Đình Anh V, sinh ngày 27/12/2019. Chị Lưu Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Chị Lưu Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí:

    Chị Lưu Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng chị L nộp tại biên lai số 00000143 ngày 02/4/2024 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình sang để thi hành án phí ly hôn sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Chị Lưu Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ; Anh Phạm Đình C có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ; .

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh
  • - Cục THA Dân sự tỉnh Thái Bình
  • - Đương sự,
  • - UBND xã Đông Xá, huyện Đông Hưng.
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 38/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger