Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H

TỈNH P

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: /2024/HNGĐ-ST

Ngày 25 - 9 - 2024

V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH P

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Mai L

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thiết Hùng

Ông Ngô Ngọc Khương

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn – Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh P

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Bà Đinh Phương Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh P xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 112/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/5/2024 về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 30/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QÐST-HNGĐ ngày 11/9/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1994;
  • Trú tại: Khu F, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1988;
  • Trú tại: Khu F, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
  • (Chị C có mặt, anh D vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị C trình bày:

Chị tự nguyện kết hôn với anh Nguyễn Ngọc D vào ngày 17/02/2012, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng hòa thuận hạnh phúc nhưng đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống với chồng và gia đình nhà chồng. Đến khoảng năm 2023 do thường xuyên xảy ra cãi vã không thể hoà giải được, anh chị xác định không thể chung sống được với nhau nên đã ly thân kể từ năm 2023 đến nay, chấm dứt mọi quan hệ, vợ chồng không quan tâm gì đến nhau. Nay xác định không còn tình cảm nên chị xin ly hôn với anh Nguyễn Ngọc D.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Nam K, sinh ngày 22/10/2012 và cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 17/8/2016. Hiện nay cả hai cháu K và T đang ở với anh D. Chị đề nghị giao cho mỗi người nuôi một cháu, chị xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết, bị đơn là anh Nguyễn Ngọc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt. Quá trình làm việc và xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Đ đều thể hiện tình trạng hôn nhân như chị C trình bày. Từ đầu năm 2023 đến nay, vợ chồng sống ly thân không quan tâm đến nhau. Anh Dũng hiện vẫn sinh sống tại địa phương, các giấy tờ văn bản Tòa án tống đạt, anh đều được biết nhưng không đến Tòa án làm việc.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, xác định:

+ Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn anh Nguyễn Ngọc D.
  • - Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 17/8/2016 cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Nam K, sinh ngày 22/10/2012 cho anh Nguyễn Ngọc D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau.
  • - Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác: Không giải quyết.
  • - Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị C phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn là Nguyễn Thị C khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Nguyễn Ngọc D cư trú tại khu F, xã Đ, huyện H nên đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, anh D tiếp tục vắng mặt, không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Do vậy, Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh D.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị C kết hôn với anh Nguyễn Ngọc D vào năm 2012 là hôn nhân hợp pháp bởi lẽ anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Hai bên chung sống hòa thuận một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không còn quan tâm, yêu thương nhau. Hai bên đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay, không có trách nhiệm với nhau. Xác minh tại gia đình và chính quyền địa phương cho thấy tình trạng hôn nhân của anh chị hiện đã rạn nứt, mỗi người một nơi, không còn đời sống chung.

Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh D đã mâu thuẫn trầm trọng, kéo dài, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị C xin ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân gia đình, cần chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Chị C và anh D có 02 con chung là cháu Nguyễn Nam K, sinh ngày 22/10/2012 và cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 17/8/2016. Từ khi vợ chồng ly thân, chị C vẫn thường xuyên về thăm nom các cháu. Xét thấy, anh D và chị C đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Để đảm bảo quyền lợi cho anh chị và các cháu, cần giao cho mỗi người nuôi một cháu là đúng quy định của pháp luật và phù hợp quan điểm của chính quyền, gia đình anh D. Cháu T nhỏ tuổi hơn nên sẽ giao cho chị C, cháu K lớn hơn sẽ giao cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị C không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị C phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Xử :
  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc D.
  2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 17/8/2016. Giao cho anh Nguyễn Ngọc D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Nam K, sinh ngày 22/10/2012. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau. Anh chị đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, vay nợ chung: Không giải quyết
  4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị C phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai số 0002991 ngày 22/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa. Chị C đã nộp đủ án phí.

Chị C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Dũng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày bản án được giao hoặc được tống đạt hợp lệ.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Mai L
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số /2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH P về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: /2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH P
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HNGĐ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger