Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH BÌNH THUẬN

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————

Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12-12-2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đức Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Tăng Minh Viên;
  • 2. Bà Trần Thị Xuân Thắm;

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Bùi Tuyết Hân, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Đinh Văn Lai– Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc O, sinh năm 1990; có mặt

Địa chỉ: Hẻm B N, khu phố G, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1991; vắng mặt

Quốc tịch: Việt Nam;

Nơi cư trú: 507 S Euclid ST #89, S, CA 92704, USA.

Thẻ cư trú: 061-376-738. Cấp ngày: 24/4/2012.

Hộ chiếu số: K00202357. Ngày cấp: 14/6/2022. Nơi cấp: Hoa Kỳ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn trình bày:

Năm 2019, bà Nguyễn Thị Ngọc O và ông Nguyễn Anh T tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08/2019, ngày 14/01/2019 tại UBND thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Bà O và ông T chỉ chung sống với nhau khoảng 6 tháng trong năm đầu kết hôn. Sau đó ông T sinh sống tại Mỹ, còn bà O sinh sống tại Việt Nam. Sau khi qua Mỹ, bà O và ông T thường xuyên liên hệ với nhau để chia sẻ mọi vấn đề trong cuộc sống. Tuy nhiên, khoảng năm 2020, 2021 do ảnh hưởng dịch Covid nên ông T không về Việt Nam thăm bà O, cả hai chỉ thỉnh thoảng liên lạc với nhau để chăm sóc con chung. Do chưa tìm hiểu kỹ tính cách của nhau nên trong thời kỳ hôn nhân nên bà O và ông T thường phát sinh mâu thuẫn, nhiều lần hàn gắn nhưng không hòa hợp. Đến nay bà O và T đã hết tình cảm dành cho nhau, tình cảm ngày càng phai nhạt, không còn muốn tiếp tục cuộc hôn nhân này. Hơn nữa vì khoảng cách địa lý, cả hai người không ở gần nhau, mỗi người có một cuộc sống riêng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà O và ông T không muốn tiếp tục chung sống với nhau và muốn được ly hôn, chấm dứt tình trạng hôn nhân như hiện nay.

Nay bà Nguyễn Thị Ngọc O yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Anh T.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc O và ông Nguyễn Anh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Anh T1, sinh ngày 09/10/2019, hiện nay đã hơn 05 tuổi. Cháu T1 đang sống cùng với bà Nguyễn Thị Ngọc O tại khu phố G, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Bà O yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu T1; bà O có nguyện vọng được nuôi cháu T1 đến khi cháu khôn lớn, trưởng thành. Ông Nguyễn Anh T có nghĩa vụ cung cấp nuôi cháu T1 đến khi cháu trưởng thành mỗi tháng là 3.000.000đồng kể từ khi ra Tòa án cho ly hôn.

Về tài sản và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc O không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn trình bày:

Ông Nguyễn Anh T thống nhất trình bày về tình trạng hôn nhân với bà Nguyễn Thị Ngọc O. Ông T đồng ý yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà O.

Về con chung: Ông Nguyễn Anh T và bà Nguyễn Thị Ngọc O có 01 người con là cháu Nguyễn Anh T1, sinh ngày: 09/10/2019, hiện nay đã hơn 05 tuổi. Cháu T1 đang sống cùng với bà Nguyễn Thị Ngọc O tại khu phố G, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Ông T đồng ý giao cháu Nguyễn Anh T1 cho bà O được quyền trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng.

Ông T không đồng ý việc bà O yêu cầu cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng để bà O nuôi cháu T1 đến khi cháu trưởng thành, vì ông T hiện tại không có việc làm và không có thu nhập.

Tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Ngọc O yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Anh T là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về yêu cầu nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Anh T1 cho bà Nguyễn Thị Ngọc O trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Nguyễn Anh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu T1 cho đến khi cháu trưởng thành, mức cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng; ông T được quyền thăm nom cháu T1 mà không ai được cản trở.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, các quy định của pháp luật, Tòa án nhận định:

[1] Về việc xét xử vắng mặt

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã cung cấp ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã thực hiện các biện pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 474 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Nguyễn Anh T vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

[2] Bà Nguyễn Thị Ngọc O và ông Nguyễn Anh T đăng ký kết hôn vào ngày 14/01/2019 tại Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên là hôn nhân hợp pháp.

Bà Nguyễn Thị Ngọc O và ông Nguyễn Anh T kết hôn tự nguyện nhưng hai bên chỉ chung sống thời gian ngắn. Sau khi kết hôn ông Nguyễn Anh T trở về Hoa Kỳ sinh sống đến nay không còn liên lạc với bà Nguyễn Thị Ngọc O, không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt, người nào chỉ biết bổn phận người đó; Cuộc sống chung vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Ngọc O và ông Nguyễn Anh T đã không còn tồn tại, hai bên không thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau. Vì vậy, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bà Nguyễn Thị Ngọc O yêu cầu ly hôn là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Tòa án chấp nhận.

[3] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc O và ông Nguyễn Anh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Anh T1, sinh ngày 09/10/2019. Cháu T1 đang sống ổn định cùng với bà Nguyễn Thị Ngọc O tại khu phố G, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/3/2024, ông Nguyễn Anh T trình bày đồng ý giao cháu Nguyễn Anh T1 cho bà Nguyễn Thị Ngọc O được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu cho đến khi trưởng thành. Vì vậy chấp nhận yêu cầu của bà O về yêu cầu nuôi con.

[4] Bà Nguyễn Thị Ngọc O yêu cầu ông Nguyễn Anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng kể từ ngày Tòa xét xử cho ly hôn. Ông Nguyễn Anh T không đồng ý vì cho rằng không có thu nhập nên không có khả năng cấp dưỡng nuôi con. Nhận thấy hiện nay ông Nguyễn Anh T đang định cư tại Hoa Kỳ và đang trong độ tuổi lao động; mức cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng mà bà Nguyễn Thị Ngọc O yêu cầu là phù hợp với điều kiện của ông Nguyễn Anh T, đồng thời đảm bảo nhu cầu thiết yếu của cháu Nguyễn Anh T1. Về thời điểm bắt đầu tính cấp dưỡng, theo khoản 24 Điều 3, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên phát sinh từ thời điểm người con được sinh ra; việc cấp dưỡng nuôi con là quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con. Từ khi bà O nộp đơn khởi kiện thì bị đơn chưa cấp dưỡng nuôi con, nên nguyên đơn yêu cầu tính cấp dưỡng từ khi Tòa án xét xử cho ly hôn là phù hợp. Vì vậy, Tòa án chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng của bà Nguyễn Thị Ngọc O.

[5] Về tài sản chung và nợ chung, đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xét.

[6] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc O tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn; ông Nguyễn Anh T phải chịu án phí đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38, khoản 4 Điều 147, Điều 149, Điều 227, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 24 Điều 3, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 121, Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân:

    Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc O. Bà Nguyễn Thị Ngọc O được ly hôn với ông Nguyễn Anh T.

  2. Về con chung:

    Giao cháu Nguyễn Anh T1, sinh ngày 09/10/2019 cho bà Nguyễn Thị Ngọc O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Anh T1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

    Ông Nguyễn Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng:

    Ông Nguyễn Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Nguyễn Anh T1 cho bà Nguyễn Thị Ngọc O, mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) cho đến khi cháu Nguyễn Anh T1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Thời gian bắt đầu tính cấp dưỡng từ ngày 12/12/2024.

  4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  5. Về án phí:

    - Bà Nguyễn Thị Ngọc O phải chịu 150.000đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0020634 ngày 08/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận. Hoàn trả cho bà O 150.000đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí.

    - Ông Nguyễn Anh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  7. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Thành Viên Hội Đồng Xét Xử

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Tăng Minh Viên

Trần Thị Xuân Thắm

Vũ Đức Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 38/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Ngọc O khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và giải quyết nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger