TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2024/DS-ST Ngày: 24/7/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Huỳnh Dư
- Ông Nguyễn Nam Lương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Hữu Xuân Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa: Bà Bùi Thị Phương Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 19/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Lương H, sinh năm 1972; nơi cư trú: A D, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt).
- Bị đơn:
1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1991; Nơi cư trú cuối cùng: P, Tòa N, khu đô thị C, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt).
2. Ông Hồ Sỹ T2, sinh năm 1986; nơi cư trú: P, Tòa N, khu đô thị C, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày: Ngày 09/11/2022, bà Nguyễn Thị T1 có đề cập mượn tiền bà để trả viện phí cho chồng bị tai nạn và một số vốn để làm ăn. Vì thấy tình hình bà T1 đang gặp khó khăn nên bà đã cho bà T1 mượn số tiền 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng) trong đó gồm 500.000.000 đồng để bà T1 chi trả tiền viện phí cho chồng và 400.000.000 đồng làm vốn mua bán yến và hẹn sẽ trả ngày 23/11/2022 không thỏa thuận trả lãi. Đến hạn trả tiền, bà có yêu cầu bà T1 trả số tiền nêu trên nhưng vì chưa có tiền trả nên bà T1 đã hẹn lại đến ngày 05/12/2022 (có viết "Giấy mượn tiền"). Đến hạn trả tiền, nhiều lần bà liên lạc để yêu cầu bà T1 trả lại số tiền đã mượn nhưng bà T1 không trả.
Vì vậy, căn cứ vào Khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, nguyên đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị T1 và ông Hồ Sỹ T2 để yêu cầu Tòa giải quyết như sau:
- Buộc bà Nguyễn Thị T1 và ông Hồ Sỹ T2 phải trả cho bà số tiền vay: 900.000.000 VND (Chín trăm triệu đồng);
- Buộc bà Nguyễn Thị T1 và ông Hồ Sỹ T2 phải trả số tiền lãi trên số tiền vay theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự 2015, với mức lãi suất: 10% năm tương ứng với 0,83%/tháng, tổng cộng số lãi trong thời gian tạm tính từ ngày 09/11/2022 - 09/03/2023 là: 900.000.000 VND x 0,83%/tháng x 4 tháng = 29.880.000 VND
Như vậy, tổng số tiền bà Nguyễn Thị T1 và ông Hồ Sỹ T2 phải trả cho bà là: 900.000.000 VND + 29.880.000 VND = 929.880.000 (Chín trăm hai mươi chín triệu tám trăm tám mươi ngàn đồng).
Và tiền lãi phát sinh đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả tiền.
Bị đơn ông Hồ Sỹ T2 trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị T1 đã ly hôn theo Quyết định số 23/2023/QÐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết b ông và bà T1 phải liên đới trả khoản tiền vay là 900.000.000 đồng và tiền lãi suất tương đương 10%/ năm tính từ ngày 09/11/2022 đến ngày 09/3/2023 là 29.880.000 đồng thì ông hoàn toàn không đồng ý vì ông không ký giấy vay và cũng không biết hoặc nhận bất cứ khoản tiền nào liên quan đến số tiền nợ trên. Thực tế thời gian đó bà T1 còn là vợ ông, chuyện làm ăn, buôn bán, vay mượn bên ngoài như thế nào là hoàn toàn do một mình bà T1 là người tự ý làm, tự ý mượn, ông không liên quan đến bất cứ khoản tiền vay mượn nào và cũng không ký vào bất cứ hợp đồng vay khoản tiền nào. Bà T1 vay mượn tiền là để phục vụ riêng cho các hoạt động kinh doanh với bạn bè bên ngoài xã hội và cá nhân bà T1, số tiền này bà T1 mượn cũng không phải để chi tiêu cho mục đích sinh hoạt thiết yếu của gia đình nên ông không có trách nhiệm phải liên đới trả số tiền này cho bà T. Ông thường xuyên đi công tác trên biển dài ngày nên không biết các hoạt động kinh doanh buôn bán của bà T1 và khăng dịnh không có bất cứ liên quan gì đến khoản tiền vay trên.
Vì thường xuyên đi công tác dài ngày trên biển nên ông đề nghị Tòa án cho xin được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc tiếp theo và xin được vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án trên.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 vắng mặt và trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ của mình là không có mặt theo triệu tập của Tòa án.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bà Nguyễn Thị T1 phải trả 500.000.000 đồng tiền gốc và lãi theo quy định. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông Hồ Sỹ T2 phải trả nợ và không chấp nhận một phần tiền gốc, lãi.
Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện đối với bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại thành phố C, tỉnh Khánh Hòa và không xác định được địa chỉ cư trú nào khác nên xem như cố tình dấu địa chỉ căn cứ theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao “Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 khoản 3 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh.
[1.2] Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt; nguyên đơn và bị đơn ông Hồ Sỹ T2 có đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án căn cứ theo quy định tại Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
[1.3] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu bị đơn trả tiền nợ đã vay nên xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
[2] Về nội dung vụ án: Theo tài liệu bản chụp do nguyên đơn cung cấp là “Giấy mượn tiền” thể hiện: Ngày 09/11/2022 nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền là 900.000.000 đồng, không tính lãi, hẹn trả tiền vào ngày 23/11/2022 sẽ trả, sau đó tiếp tục hẹn đến ngày 05/12/2022, ngoài ra còn có những dòng viết thêm khác như góc trên bên trái ghi “tổng cộng T1 lấy là 500.000.000 đồng”, tại góc dưới lại có dòng viết thêm “lấy tiền mặt: 500.000.000 đồng, ck cho T1 350.000.000 đồng, phí ngân hàng 7.500”. Quá trình nguyên đơn khởi kiện đã có 03 đơn khởi kiện có yêu cầu khởi kiện khác nhau, cụ thể: Đơn khởi kiện đề ngày 15/3/2023 xác định yêu cầu khởi kiện là 900.000.000 đồng tiền gốc và lãi. Tòa án đã chuyển đơn này để tiến hành thủ tục hòa giải theo Luật Hòa giải và đối thoại tại Tòa án. Tại Biên bản về việc chấm dứt hòa giải ngày 10/5/2023, giữa bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T1 đã xác định khoản nợ gốc là 500.000.000 đồng, ngoài ra còn có các khoản lãi đáo hạn thẻ tín dụng và phạt đáo hạn thẻ. Sau đó, bà T làm đơn khởi kiện đề ngày 23/5/2023 xác định yêu cầu khởi kiện là 500.000.000 đồng tiền gốc và lãi phát sinh. Tuy nhiên đơn khởi kiện ngày 23/6/2023 bổ sung, bà T xác định lại yêu cầu khởi kiện là 900.000.000 đồng tiền gốc và lãi và đây cũng là yêu cầu khởi kiện sau cùng được Tòa án thụ lý.
[3] Xét “Giấy mượn tiền” do nguyên đơn cung cấp là bản chụp, Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp bản gốc nhưng nguyên đơn không thực hiện. Về nội dung, bản “Giấy mượn tiền” có nhiều nội dung viết thêm, không nhất quán về số tiền bà T1 đã vay. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận chứng cứ này.
[4] Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu Biên bản về việc chấm dứt hòa giải ngày 10/5/2023, giữa nguyên đơn và bà T1 xác định số nợ gốc là 500.000.000 đồng. Tài liệu này cũng phù hợp với nội dung đơn khởi kiện đề ngày 23/5/2023 chỉ khởi kiện số tiền 500.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh. Xét đây là các tài liệu chứng minh giữa nguyên đơn và bà T1 có giao dịch vay tiền là có thật và số tiền nợ gốc còn lại là 500.000.000 đồng. Do vậy, Hội đồng xét xử chỉ có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên về số tiền 500.000.000 đồng.
[5] Đối với tiền lãi, nguyên đơn xác định hợp đồng vay tiền với bà T1 là hợp đồng không lãi và có hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 05/12/2022. Tại buổi hòa giải ngày 10/5/2023 do hòa giải viên tiến hành, bị đơn không có ý kiến gì về vấn đề này. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tiền lãi chậm trả tính từ ngày 06/12/2022 đến ngày xét xử là 24/7/2024 là: 500.000.000 đồng x 596 ngày/365 ngày x 10%/năm = 81.643.000 đồng.
[6] Tổng số tiền bị đơn bà T1 phải trả cho nguyên đơn là: 581.643.000 đồng và tiền lãi phát sinh với lãi suất 10%/năm tính trên số tiền gốc còn nợ tính từ ngày 25/7/2024 đến khi thanh toán xong.
[7] Về trách nhiệm trả nợ thì thấy rằng, nguyên đơn không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì chứng minh ông Hồ Sỹ T2 có liên quan đến khoản vay của bà Nguyễn Thị T1 nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông T2 phải cùng trả nợ vay cho nguyên đơn.
[7] Ngoài ra, trong Biên bản về việc chấm dứt hòa giải ngày 10/5/2023 còn đề cập đến khoản lãi đáo hạn thẻ tín dụng và lãi phạt đáo thẻ nhưng nguyên đơn không có yêu cầu nên không xem xét.
[8] Về án phí:
- Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 27.265.000 đồng đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.
- Nguyên đơn phải chịu án phí trên phần yêu cầu không được chấp nhận, tổng cộng là 17.711.000 đồng bao gồm:
- + Không chấp nhận xác định nghĩa vụ trả nợ của ông Hồ Sỹ T2: án phí là 300.000 đồng.
- + Số tiền yêu cầu không được chấp nhận là 929.880.000 đồng - 581.643.000 đồng = 348.237.000 đồng, án phí là 17.411.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Các Điều 357, 468, 463, 466, 468 và 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 180, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao “Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 khoản 3 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án”;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị T1 phải trả cho nguyên đơn số tiền theo hợp đồng vay là 581.643.000 đồng (bằng chữ: Năm trăm tám mươi mốt triệu, sáu trăm bốn mươi ba nghìn đồng), (trong đó tiền gốc: 500.000.000 đồng, tiền lãi 81.643.000 đồng) và tiền lãi phát sinh với lãi suất 10%/năm tính trên số tiền gốc còn nợ tính từ ngày 25/7/2024 đến khi thanh toán xong.
- Về án phí:
- Bà Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí 27.265.000 đồng (Hai mươi bảy triệu, hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí là 17.711.000 đồng, khẩu trừ 19.950.000 đồng (Mười chín triệu, chín trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0002507 ngày 09 tháng 8 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. H1 lại cho bà Nguyễn Thị T 2.239.000 đồng (Hai triệu, hai trăm ba mươi chín nghìn đồng) tạm ứng án phí.
- Quy định:
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiếu |
Bản án số 38/2024/DS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 38/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 09/11/2022, bà Nguyễn Thị Thúy có đề cập mượn tiền bà để trả viện phí cho chồng bị tai nạn và một số vốn để làm ăn. Vì thấy tình hình bà Thúy đang gặp khó khăn nên bà đã cho bà Thúy mượn số tiền 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng) trong đó gồm 500.000.000 đồng để bà Thúy chi trả tiền viện phí cho chồng và 400.000.000 đồng làm vốn mua bán yến và hẹn sẽ trả ngày 23/11/2022 không thỏa thuận trả lãi. Đến hạn trả tiền, bà có yêu cầu bà Thúy trả số tiền nêu trên nhưng vì chưa có tiền trả nên bà Thúy đã hẹn lại đến ngày 05/12/2022 (có viết "Giấy mượn tiền"). Đến hạn trả tiền, nhiều lần bà liên lạc để yêu cầu bà Thúy trả lại số tiền đã mượn nhưng bà Thúy không trả. Vì vậy, căn cứ vào Khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, nguyên đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Thúy và ông Hồ Sỹ Thiệu để yêu cầu Tòa giải quyết như sau: 1. Buộc bà Nguyễn Thị Thúy và ông Hồ Sỹ Thiệu phải trả cho bà số tiền vay: 900.000.000 VND (Chín trăm triệu đồng); 2. Buộc bà Nguyễn Thị Thúy và ông Hồ Sỹ Thiệu phải trả số tiền lãi trên số tiền vay theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự 2015, với mức lãi suất: 10% năm tương ứng với 0,83%/tháng, tổng cộng số lãi trong thời gian tạm tính từ ngày 09/11/2022 - 09/03/2023 là: 900.000.000 VND x 0,83%/tháng x 4 tháng = 29.880.000 VND Như vậy, tổng số tiền bà Nguyễn Thị Thúy và ông Hồ Sỹ Thiệu phải trả cho bà là: 900.000.000 VND + 29.880.000 VND = 929.880.000 (Chín trăm hai mươi chín triệu tám trăm tám mươi ngàn đồng). Và tiền lãi phát sinh đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả tiền.
