TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2023/DS-PT Ngày 27-12 -2023 V/v “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền" |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Mai Hằng
Các Thẩm phán: Ông Phạm Hồng Quân và ông Nguyễn Hữu Hải
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tố Uyên – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 31/2023/TLPT-DS ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc Tranh chấp hợp đồng ủy quyền.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái nguyên đơn và bị đơn kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXPT-DS ngày 30 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 25/QĐ-PTDS ngày 14/12/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thanh H, sinh năm 1966. Có mặt
Nơi cư trú: Tổ 04, phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
Nơi ở: Tổ 10, phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Bị đơn:
Ông Vũ Quang H1, sinh năm 1961; Có đơn xin xét xử vắng mặt;
Bà Trần Thị N, sinh năm 1962; Có mặt;
Cùng cư trú: Tổ A, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Chí Đ-Luật sư thuộc Công ty L4Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ số: F đường P, phường X, quận N, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Trương L, sinh năm 1956; Vắng mặt
Nơi cư trú: Số nhà B, đường K, phường M, thành phố Y.
- Ông Lâm Văn Q, sinh năm 1976; Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Trương L, sinh năm 1956; Vắng mặt
Nơi thường trú: Tổ A, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội;
Địa chỉ liên lạc: số A, đường V, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội.
- Người kháng cáo:
Bà Lê Thị Thanh H là nguyên đơn, ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N là bị đơn. Bà H, bà N có mặt; ông H1 có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Ngoài ra, vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phí Văn V; ông Lương Đức L1; ông Lê Mạnh T; Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 (B), nhưng những người này không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, thì nội dung vụ án như sau:
* Nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Năm 2005 gia đình ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N bị thu hồi đất theo Quyết định số 1270/ QĐ-UBND ngày 21/10/2005 của Ủy ban nhân dân thành phố Y (viết tắt UBND thành phố), được điều chỉnh theo các Quyết định 763/QĐ-UBND ngày 30/5/2007 và Quyết định số 610/QĐ-UBND ngày 13/4/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Y (viết tắt UBND tỉnh). Mục đích thu hồi đất của UBND thành phố là để mở rộng công trình đường B-Nhà khách số 02 theo quy hoạch đã được phê duyệt. Diện tích đất bị thu hồi sau đó đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Bùi Minh L2 và bà Trần Thị H2 (là vợ chồng) đều trú tại tổ 9a, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, ông H1, bà N đã khiếu nại các quyết định hành chính nêu trên, nhưng không được các cơ quan có thẩm quyền chấp nhận, nên đã khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái.
Ngày 06 tháng 02 năm 2018, ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N lập hợp đồng ủy quyền có thù lao cho bà Lê Thị Thanh H thay mặt ông H1, bà N làm việc với các cơ quan có thẩm quyền và các bên liên quan, làm các thủ tục pháp lý và ký các giấy tờ cần thiết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H1, bà N. Sau khi hoàn thành công việc ủy quyền bà H sẽ được trả thù lao 40% giá trị bất động sản mà ông H1, bà N được hưởng. Ngày 07/02/2018 ông H1 làm giấy ủy quyền (tại Phòng công chứng) cho bà H tham gia tố tụng vụ án hành chính mà ông H1, bà N khởi kiện có liên quan đến 03 quyết định thu hồi đất nêu trên.
Quá trình xét xử vụ án hành chính, các bên đã thoả thuận với nhau: Tại biên bản thỏa thuận ngày 24 tháng 11 năm 2018 có sự tham gia của Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch UBND thành phố, ông H1, bà N, ông L2 bà H2, thống nhất: Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch UBND thành phố, giữ nguyên các quyết định hành chính đã ban hành liên quan đến vụ án; ông Bùi Minh L2, bà Trần Thị H2 đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N 07 lô đất (từ lô số 04 đến lô số 10) diện tích mỗi lô là 4m x 20m, đồng ý chi trả các khoản thuế phí và lệ phí liên quan đến quyền sử dụng đất, ông H1, bà N không phải thanh toán tiền nhận chuyển nhượng 07 lô đất, ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N đồng ý nhận chuyển nhượng 07 lô đất của ông L2, bà H2 và cam kết rút đơn khởi kiện. Ngày 24/11/2018 ông H1, bà N rút đơn khởi kiện vụ án Hành chính thụ lý số 02/2018/TLST-HC ngày 30/01/2018 và Thông báo số 02a/2018/TLST-HC ngày 31/01/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số: 07/2018/QĐHC-ST ngày 24/11/2018.
Ngày 30/11/2018 Ủy ban nhân dân thành phố Y đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử đất cho ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N đối với các lô đất: Lô số 4 thuộc thửa số 15 có số vào sổ cấp GCN: CH04233; lô số 5 thuộc thửa số 16 có số vào sổ: CH04234; lô số 6 thuộc thửa 17 có số vào sổ cấp GCN:CH04235; lô số 7 thuộc thửa 18 có số vào sổ cấp GCN: CH04236; lô số 8 thuộc thửa 19 có số vào sổ cấp GCN: CH04237; lô số 9 thuộc thửa 20 có số vào sổ cấp GCN CH04238; lô số 10 thuộc thửa 21 có số vào sổ cấp GCN: CH04239; cùng tờ bản đồ số 41, địa chỉ tổ D (nay là tổ A), phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, các thửa có cùng diện tích 80m², đều là đất ở (ODT). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N, cùng địa chỉ: Tổ D (nay là tổ A), phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
Ngày 29/5/2019 ông Vũ Quang H1 và Trần Thị N ký hợp đồng tín dụng số 01/2019/12481429/HĐTD với Ngân hàng Đ1 - Chi nhánh Y - Phòng G, vay 2.000.000.000đồng (Hai tỷ đồng) và ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 01/2019/12481429/HĐBĐ ngày 23/5/2019 để đảm bảo khoản vay trên tài sản thế chấp là: Thửa số 17 (lô số 6 ) và thửa số 18 (lô số 7).
Cùng ngày 28/11/2019 ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Phí Văn V thửa số 15 (lô số 4), số vào sổ cấp GCN CH04233 ngày 30/11/2018 và chuyển nhượng cho ông Lương Đức L1: Thửa số 16 (lô số 5), số vào sổ cấp GCN CH04234 ngày 30/11/2018.
Do ông H1, bà N không thực hiện nghĩa vụ trả thù lao cho bà H theo hợp đồng ủy quyền ngày 06/02/2018. Vì vậy, ngày 06/12/2019 bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái giải quyết:
- Buộc ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N trả thù lao cho bà H bằng 40% giá trị tài sản ông H1, bà N được nhận là: 560m² x 50.000.000 đ/m2 x 40% = 11.200.000.000đồng (Mười một tỷ hai trăm triệu đồng).
- Buộc ông H1, bà N phải thanh toán phần thù lao cho bà H là: 33m² đất vườn (tương đương gần 10%) khoảng 6.000.000đồng (bà H rút yêu cầu này trước khi mở phiên tòa ngày 13/8/2020).
- Hủy hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N với ông Lương Đức L1 và ông Phí Văn V (bà H rút yêu cầu này tại phiên tòa sơ thẩm ngày 13/8/2020).
* Bị đơn ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H với lý do: Ông H1, bà N không được làm hợp đồng ủy quyền ngày 06/02/2018 với bà H, chữ ký trên hợp đồng là giả. Tại khoản 1 Điều 4 của hợp đồng ủy quyền có thù lao thỏa thuận “Hợp đồng này có hiệu lực kể từ thời điểm công chứng và chấm dứt khi các bên thực hiện xong quyền và nghĩa vụ của mình”, Hợp đồng ủy quyền chưa được công chứng nên chưa phát sinh hiệu lực, ông H1, bà N được nhận 7 lô đất là theo biên bản thỏa thuận ngày 24 tháng 11 năm 2018 giữa vợ chồng ông và vợ chồng ông Bùi Minh L2, bà Trần Thị H2 có sự tham gia của Ủy ban nhân dân tỉnh Y, Ủy ban nhân dân thành phố Y; bà H có mặt nhưng không ký vào biên bản thỏa thuận, ông H1, bà N xác định có ký một Bản cam kết viết tay với bà H nếu bà H đòi được 12 lô đất cho ông bà, thì ông bà mới trả thù lao cho bà H 4 lô đất; bản cam kết này chỉ có một bản do bà H giữ nên ông H1, bà N không có để giao nộp cho Tòa án.
Bị đơn ông H1, bà N yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trên hợp đồng ủy quyền có thù lao ngày 06 tháng 02 năm 2018 (do bà Lê Thị Thanh H giao nộp); tại Bản kết luận giám định số: 110/C09-P5 ngày 18/5/2020 của V1 Bộ C1 kết luận: Chữ ký và chữ viết đứng tên Trần Thị N, Vũ Quang H1 trên hợp đồng ủy quyền có thù lao là chữ ký và chữ viết của bà Trần Thị N, ông Vũ Quang H1.
Quá trình giải quyết sơ thẩm ban đầu, ông H1, bà N có yêu cầu phản tố đề nghị chấm dứt hợp đồng thuê đất ngày 15/10/2015 với ông Lê Mạnh T và bà Lê Thị Thanh H; buộc ông T bà H tháo dỡ toàn bộ công trình đã xây dựng trên đất thuê, trả lại nguyên trạng đất ban đầu và trả tiền thuê đất từ tháng 3 đến hết tháng 5/2020 là 150.000.000đồng cho ông bà. Do ông H1, bà N có yêu cầu phản tố khi Tòa án đã mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án ra thông báo không thụ lý yêu cầu phản tố của ông H1, bà N, ông bà có quyền khởi kiện giải quyết bằng một vụ án khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Mạnh T: Nhất trí với yêu cầu khởi kiện bổ sung của bà H về yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H1, bà N với ông L1, ông V.
- Ngân hàng Đ1, do người đại diện theo ủy quyền lại trình bày: Ông H1, bà N có vay tiền và thế chấp quyền sử dụng đất như đã nêu trên là đúng; Khách hàng thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản tại hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng nên Ngân hàng không đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề gì;
- Ông Phí Văn V và ông Lương Đức L1 không đồng ý với yêu cầu của bà Lê Thị Thanh H về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
* Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản theo yêu cầu của bà H như sau:
- Đối với 03 lô đất số 4, 5, 6 (thửa số 15, 16, 17) do bà H đang quản lý (có 3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp GCN: CH04233; CH04234; CH04235): Về vị trí, diện tích đất đều đúng và đủ so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; không có tranh chấp với các hộ giáp ranh, diện tích mỗi lô là 80m²; Giá trị quyền sử dụng 3 lô đất bà H đang quản lý là: (3 lô x 80 m² /lô) x 50.000.000 đ/1m² = 12.000.000.000đồng (Mười hai tỷ đồng); Tài sản gắn liền với đất là 01 nhà xây cấp 4 (bà H xây dựng năm 2016) nằm trên cả 03 lô đất có diện tích 12m x 20m = 240m²; có giá trị là: 469.492.000đồng.
- Đối với 4 lô đất số 7, 8, 9, 10 (thửa số 18, 19, 20, 21) do ông H1, bà N đang quản lý, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: CH04236; CH04237; CH04238; CH04239, diện tích mỗi lô theo Giấy CN là 80 m²; do ông H1, bà N không hợp tác nên không thể tiến hành thẩm định, định giá được.
- Do 07 lô đất cùng vị trí, cùng diện tích như nhau, nên áp dụng mức giá theo Hội đồng định giá tài sản xác định đối với các lô đất do bà H quản lý là 50.000.000đ/m² x (4 lô x 80m²/lô) = 16.000.000.000đồng.
Chi phí tố tụng khác: Chi phí giám định chữ ký, chữ viết là 5.000.000đồng (ông H1, bà N nộp tạm ứng); Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000đồng và chi phí định giá là 3.957.000đồng (đều do bà Lê Thị Thanh H nộp tạm ứng);
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2020/TCDS-ST ngày 13/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thanh H: Buộc ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N trả thù lao cho bà Lê Thị Thanh H số tiền 11.200.000.000đồng (Mười một tỷ hai trăm triệu đồng).
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Lê Thị Thanh H về việc hủy hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N với ông Lương Đức L1 và ông Phí Văn V (nếu có tranh chấp thì có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 19/8/2020 bị đơn ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N kháng cáo Bản án sơ thẩm.
Tại Bản án phúc thẩm số: 08/2020/DS-PT ngày 17/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái: Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N: Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 04/2020/TCDS-ST ngày 13/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái.
Ngày 08/10/2020 ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N có đơn đề nghị xem xét giải quyết vụ án theo thủ tục Giám đốc thẩm. Ngày 18/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có Quyết định kháng nghị Giám đốc thẩm số 14/KNGĐT-VC1-DS kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 08/2020/DS-PT ngày 17/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử Giám đốc thẩm. Tại Quyết định Giám đốc thẩm số 34/2021/DS-GĐT ngày 22/6/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội quyết định:
- Chấp nhận Kháng nghị số 14/KNGĐT-VC1-DS ngày 18/02/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 08/2020/DS-PT ngày 17/9/2020 của TAND tỉnh Yên Bái và Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2020/TCDS-ST ngày 13/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái về vụ án “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền”.
- Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.
Quá trình thụ lý giải quyết lại vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện trình bày bổ sung: Các công việc bà đã làm khi bảo vệ quyền lợi cho ông H1, bà N cụ thể là: Bà trực tiếp soạn thảo đơn khiếu nại, đơn khởi kiện vụ án Hành chính, các văn bản gửi Tòa án và các cơ quan cho ông H1, bà N, trực tiếp đi nộp tiền tạm ứng án phí vụ án hành chính. Quá trình tham gia tố tụng vụ án Hành chính bà thực hiện các công việc gồm: Thuê Luật sư tư vấn pháp lý, bảo vệ quyền lợi cho ông H1, bà N trong vụ án hành chính, thu thập tài liệu, chứng cứ nộp cho Tòa án, nhân danh ông H1, bà N làm việc trực tiếp với các cơ quan có thẩm quyền gồm UBND thành phố, UBND tỉnh, Văn phòng đăng ký đất đai.., người có thẩm quyền; bà được Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng UBND tỉnh chấp nhận và có giấy mời bà đến giải quyết khiếu kiện các quyết định hành chính nêu trên. Tại phiên tòa hành chính ngày 14/11/2018, ông L người đại diện cho ông L2 bà H2 đưa ra đề nghị trả cho ông H1, bà N 6,5 lô đất, bà không đồng ý, mà yêu cầu phải trả cho ông H1, bà N 07 lô đất bà mới đồng ý và được ông L chấp nhận, ông H1, bà N cũng đồng ý với bà, sau đó bà và các đương sự đề nghị Hội đồng xét xử tạm dừng phiên tòa để thỏa thuận, kết quả thỏa thuận ông H1, bà N đã nhận được 07 lô đất.
Tại buổi làm việc ngày 24/11/2018 có rất nhiều thành phần có mặt, có cả luật sư của người khởi kiện, người bị kiện..., bà và bà Lã Thị L3 là người soạn thảo biên bản thỏa thuận. Do ông H1 chỉ ủy quyền cho bà tham gia tố tụng, không ủy quyền ký các văn bản thay ông H1, do đó, bà không ký vào biên bản thỏa thuận và đơn xin rút đơn khởi kiện vụ án hành chính.
Về các chi phí thực tế bà bỏ ra để bảo vệ quyền lợi cho ông H1, bà N: Do 2 bên thỏa thuận trong hợp đồng ủy quyền là trả thù lao trọn gói, bà là người chịu mọi chi phí nên bà không thu thập, lưu giữ, cung cấp chứng từ để thanh toán với ông H1 bà N do đó bà không có để nộp cho Tòa án. Mặt khác, những công việc bà thực hiện trước và trong quá trình giải quyết vụ án hành chính từ năm 2018 đến nay thời gian đã lâu nên việc yêu cầu bà cung cấp chứng từ chứng minh chi phí là bất khả kháng.
Thực tế những công việc bà làm để bảo vệ quyền lợi cho ông H1, bà N được các cơ quan có thẩm quyền và những người đại diện, những người tham gia tố tụng biết và xác nhận; kết quả ông H1, bà N đã được Ủy ban nhân dân thành phố Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng 07 lô đất theo thỏa thuận có địa chỉ tại tổ D (nay là tổ A), phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái với giá 0 đồng. Sau khi nhận, ông H1, bà N đã thế chấp Ngân hàng, làm hợp đồng chuyển nhượng cho ông V và ông L1 nhưng ông H1, bà N không trả thù lao cho bà theo hợp đồng ủy quyền ngày 06/02/2018.
Bà đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông H1, bà N phải trả thù lao cho bà 40% giá trị bất động sản mà ông H1 bà N đã được nhận là 560m² x 50.000.000đ/m² x 40% = 11.200.000.000 đồng.
Bị đơn ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N thống nhất trình bày: Ông bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H, vì ông, bà không được xác lập Hợp đồng ủy quyền có thù lao với bà H vào ngày 06/02/2018. Chữ ký trong hợp đồng là giả mạo; hợp đồng này chưa được công chứng nên chưa phát sinh hiệu lực, ông, bà không thừa nhận kết luận giám định số: 110/C09-P5 ngày 18/5/2020 của V1 Bộ C1, kết luận không khách quan, nhưng ông, bà không yêu cầu giám định lại. Ông H1 chỉ được ký giấy ủy quyền cho bà H tham gia tố tụng trong vụ án hành chính năm 2018 do ông và bà N khởi kiện. Trước khi khởi kiện vụ án hành chính ông, bà có viết Bản cam kết với bà H (bản cam kết có 1 bản do bà H giữ nên không giao nộp được cho Tòa án) nếu bà H đòi được 12 lô đất thì ông, bà mới cắt 04 lô cho bà H, Bản cam kết không có người làm chứng, không công chứng, chứng thực. Tuy nhiên tại phiên tòa ông H1, bà N thừa nhận bà H là người soạn thảo đơn khởi kiện, nộp tạm ứng án phí vụ án hành chính; Về việc thuê Luật sư và trả các chi phí cho Luật sư ông bà không biết, nhưng ông bà thừa nhận có Luật sư tham gia bảo vệ quyền lợi cho ông bà và ông bà không phải trả các chi phí cho Luật sư. Ngày 24/11/2018 tại buổi làm việc có nhiều người tham gia nhưng không ghi vào biên bản mà chỉ ghi Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch UBND thành phố Y, ông H1, bà N, ông L2, bà H2. Ông bà cũng không phủ nhận công lao của bà H. Nhưng bà H khởi kiện yêu cầu buộc ông, bà phải trả thù lao bằng 40% giá trị 7 lô đất ông bà được nhận là không có căn cứ, ông bà không đồng ý.
Đối với yêu cầu phản tố ngày 12/6/2020 của ông, bà không được Toà án chấp nhận, sau khi thụ lý lại vụ án ông, bà không có yêu cầu phản tố gì đối với yêu cầu của bà H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phí Văn V và ông Lương Đức L1 đều trình bày nội dung như sau: Ngày 28/11/2019 ông V, ông L1 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông H1, bà N hai thửa đất số 15 (lô số 4), 16 (lô S) tại tổ D (nay là tổ A) phường Đ, thành phố Y. Hợp đồng được thực hiện tại Phòng Công chứng theo đúng quy định. Do liên quan đến tranh chấp hợp đồng ủy quyền giữa bà H với ông H1, bà N, đến nay ông V, ông L1 chưa làm được thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trong vụ án này, ông L1, ông V xác định không liên quan gì đến hợp đồng ủy quyền nên không có yêu cầu gì.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Mạnh T và người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Mạnh T là bà Lê Thị Thanh H thống nhất trình bày:
Ngày 15/10/2015 ông T và bà H ký hợp đồng thuê đất của ông H1, bà N tại tổ D, phường Đ, thành phố Y tại vị trí A, đường N, chiều rộng mặt đường 12m, chiều sâu là 24m, diện tích 288m2, thuộc thửa 15 (lô số 4), thửa 16 (lô số 5), thửa 17 (lô số 6), thời gian thuê đất là 05 năm kể từ ngày 01/3/2016 và được phép xây dựng nhà cấp 4 trên đất đã thuê, ông T và bà H thống nhất bà H đứng ra xây dựng nhà cấp 4 trên diện tích đất thuê để làm cửa hàng, năm 2016 bà H xây nhà cấp 4 trên ba thửa đất diện tích là 240m², ông T và bà H thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng. Hợp đồng chưa hết thời hạn cho thuê mà ông H1, bà N đã ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông V, ông L1 thửa đất số 15, 16, thế chấp cho Ngân hàng thửa số 17 là vi phạm hợp đồng vì trên diện tích 3 thửa này có tài sản của ông T và bà H và cũng là các thửa đất liên quan đến hợp đồng ủy quyền giữa ông H1, bà N với bà H. Ông T xác định không liên quan đến hợp đồng ủy quyền giữa bà H, ông H1, bà N nên không có yêu cầu gì.
Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh Y - Phòng G trình bày:
Ngày 23/5/2019 ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N và Ngân hàng TMCP Đ1, chi nhánh Y, phòng G đã ký hợp đồng thế chấp số 01/2019/12481429/HĐBĐ, thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 197328 số vào sổ cấp GCN số CH 04235 và số CP 197329 số vào sổ cấp GCN số CH 04236, thửa số 17 (lô số 6), thửa số 18 (lô số 7), tại tổ D, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái do UBND thành phố Y cấp ngày 30/11/2018, mang tên ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N. Ngày 29/5/2019 ông H1, bà N ký hợp đồng tín dụng số 01/2019/12481429/HĐTD với ngân hàng vay 2 tỷ đồng.
Quá trình thực hiện thủ tục thế chấp và cho vay, ngân hàng thực hiện thẩm định tài sản của ông H1, bà N không có tranh chấp và không thế chấp tài sản cho tổ chức, cá nhân nào, ông H1, bà N đủ điều kiện để ngân hàng cho thế chấp và cho vay. Ngân hàng chỉ yêu cầu khách hàng thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của mình đối với ngân hàng, ngân hàng không đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề gì.
Tại Bản tự khai ngày 27/10/2022 người làm chứng (ông Nguyễn Trương L) trình bày: Đầu năm 2018 ông Bùi Minh L2 và bà Trần Thị H2 ủy quyền cho ông tham gia tố tụng vụ án Hành chính về việc: “Khiếu nại hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”. Các phiên hòa giải tại Tòa án bà H đều có mặt đại diện cho ông H1, bà N. Ngày 24/11/2018 tại trụ sở UBND tỉnh Y, bà Lê Thị Thanh H cũng có mặt nhưng không tham gia đến việc quyết định thỏa thuận của hai gia đình. Chiều ngày 24/11/2018 hai bên gia đình ông Bùi Minh L2, bà Trần Thị H2 và ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N đến Phòng C2 tỉnh Yên Bái để làm hợp đồng theo biên bản thỏa thuận trên, bà H không có mặt. Sau đó ông L2, bà H2 đã làm các thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất (07 thửa đất) cho ông H1, bà N tại Chi nhánh Văn phòng Đ2, không có mặt bà H.
Tại bản tự khai ngày 06/3/2023 và đơn xin xét xử vắng mặt (ông Lâm Văn Q) trình bày: Ngày 27/10/2018 bà Lê Thị Thanh H ký hợp đồng dịch vụ pháp lý số 18/2018/HĐDVPL về việc: Yêu cầu luật sư tư vấn tham gia tố tụng vụ án Hành chính sơ thẩm thụ lý số 02/2018/TLST-HC ngày 30/01/2018 và số 02a/2018/TLST-HC ngày 31/01/2018 với Công ty L5 – Đoàn Luật sư thành phố H để bảo vệ lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện vụ án hành chính là ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N, ông là luật sư được Công ty phân công tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện theo hợp đồng. Bà H là người trực tiếp chi trả dịch vụ pháp lý cho Công ty và chi trả toàn bộ chi phí ăn, nghỉ, đi lại, lưu trú cho luật sư, ông H1, bà N không phải chi trả khoản nào liên quan đến luật sư. Quá trình tham gia tố tụng vụ án Hành chính bà H là người thực hiện toàn bộ quyền và nghĩa vụ của ông H1, bà N, thay mặt ông H1, bà N cung cấp tài liệu, chứng cứ tham gia các phiên hòa giải, đưa ra các yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết liên quan đến khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. Tại phiên tòa xét xử vụ án Hành chính ngày 14/11/2018 bà H trình bày nội dung yêu cầu khởi kiện, ông H1, bà N cũng nhất trí với lời trình bày của bà H. Ông Nguyễn Trương L là người đại diện theo ủy quyền của ông L2, bà H2 đưa ra ý kiến trả cho ông H1, bà N 02 lô đất sau đó tăng lên 6,5 lô nhưng bà H và vợ chồng ông H1, bà N không đồng ý, bà H yêu cầu người liên quan phải trả cho ông H1, bà N 07 lô thì mới rút đơn khởi kiện, sau đó các bên xin tạm dừng phiên tòa hành chính để thỏa thuận và được HĐXX chấp nhận dừng phiên tòa. Đến ngày 24/11/2018 tại trụ sở UBND tỉnh Y ông và bà Lê Thị Thanh H cũng có mặt. Tại buổi đối thoại người khởi kiện, người bị kiện, người liên quan đã đối thoại thành, các bên thống nhất: Ông Bùi Minh L2, bà Trần Thị H2 đồng ý chuyển nhượng 07 lô đất (từ lô số 04 đến lô số A), tại tổ D, phường Đ, thành phố Y cho ông H1, bà N và ông H1, bà N không phải thanh toán tiền chuyển nhượng 07 lô đất; ông H1, bà N đồng ý ủy quyền cho ông L2, bà H2 nhận tiền bồi thường diện tích đất bị thu hồi. Ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện vụ án hành chính.
Quá trình thụ lý, giải quyết lại vụ án, bà H, ông H1, bà N không yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với 07 lô đất nêu trên; bà H đề nghị sử dụng kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và kết quả định giá tài sản ngày 15/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái.
Ông H1, bà N không công nhận kết luận giám định chữ ký chữ viết của mình trong hợp đồng ủy quyền, nhưng không yêu cầu giám định lại.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 16/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đã quyết định:
Căn cứ Điều 3, Điều 6 và các Điều 357, 468, 562, khoản 1 Điều 565, khoản 2, Điều 567 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 161, khoản 1 Điều 165, điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thanh H: Buộc ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N phải trả thù lao cho bà Lê Thị Thanh H số tiền 5.600.000.000đồng (năm tỷ sáu trăm triệu đồng).
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Lê Thị Thanh H về việc hủy hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N với ông Lương Đức L1 và ông Phí Văn V (nếu có tranh chấp thì có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật).
- Về chi phí tố tụng:
- Chi phí giám định: Ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N phải chịu 5.000.000đồng (năm triệu đồng), xác nhận ông H1 đã nộp đủ.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà Lê Thị Thanh H phải chịu 2.978.500đồng (Hai triệu chín trăm bảy mươi tám nghìn năm trăm đồng); ông H1, bà N phải trả cho bà Lê Thị Thanh H 2.978.500đồng (Hai triệu chín trăm bảy mươi tám nghìn năm trăm đồng).
- Về án phí:
- Bà Lê Thị Thanh H phải chịu 113.600.000đồng (một trăm mười ba triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 59.900.000đồng (năm mươi chín triệu chín trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số: AA/2017/0005206 ngày 09/12/2019 và biên lai số AA/2017/0006305 ngày 14/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Bà H còn phải nộp 53.700.000đồng (năm mươi ba triệu bảy trăm nghìn đồng).
Trả lại cho bà H số tiền tạm ứng án phí kháng cáo là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2022/0000182 ngày 22/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N phải chịu 113.600.000đồng (một trăm mười ba triệu sáu trăm nghìn đồng), (chưa nộp);
- Bà Lê Thị Thanh H phải chịu 113.600.000đồng (một trăm mười ba triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 59.900.000đồng (năm mươi chín triệu chín trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số: AA/2017/0005206 ngày 09/12/2019 và biên lai số AA/2017/0006305 ngày 14/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Bà H còn phải nộp 53.700.000đồng (năm mươi ba triệu bảy trăm nghìn đồng).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, quyền thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 28/8/2023 bị đơn ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N kháng cáo với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông bà phải trả cho bà Lê Thị Thanh H số tiền 5.600.000.000 đồng (năm tỷ sáu trăm triệu đồng và buộc ông bà phải chịu 113.600.000 đồng (một trăm mười ba triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền án phí là không đúng quy định của pháp luật.
Ngày 29/8/2023 nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H kháng cáo với nội dung: Đề nghị sửa bản án sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 16/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà buộc ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N phải trả thù lao cho bà bằng 40% giá trị của 07 lô đất 560m² đất ở (tương đương số tiền 11.200.000.000 đồng (mười một tỷ hai trăm triệu đồng) và chịu toàn bộ chi phí tố tụng của vụ án.
* Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, Tòa án đã tiến hành thu thập các tài liệu chứng cứ gồm: Toàn bộ tài liệu liên quan đến việc bà Lê Thị Thanh H đến Tòa án để nộp tài liệu chứng cứ và tham gia các buổi hòa giải, tham gia phiên tòa đối với vụ án hành chính số 02/2018/TLST-HC ngày 30/01/2018 và số 02a/2018/TLST-HC ngày 31/01/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm của Thẩm phán và Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án phúc thẩm đến trước khi Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 147, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án theo hướng:
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Thanh H sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà H buộc ông H1, bà N phải bồi thường 11.200.000.000 đồng và phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng của vụ án.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N sửa Bản án sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 16-8-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái theo hướng: Buộc ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N phải trả thù lao cho bà Lê Thị Thanh H số tiền 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng).
- Về án phí: Do bản án bị sửa nên cần tính lại án phí theo quy định pháp luật.
- Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đ án phí dân sự phúc thẩm, bị đơn được miễm án phí dân sự phúc thẩm
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng; ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H và bị đơn ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N có đơn kháng cáo đối với Bản án sơ thẩm. Nội dung và hình thức đơn kháng cáo, thời hạn kháng cáo và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định nên kháng cáo của bà H, ông H1 và bà N là hợp lệ. Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xem xét lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Vũ Quang H1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H1 theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bà Lê Thị Thanh H, ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N:
[2.1] Theo nguyên đơn trình bày vào ngày 06/02/2018 bà Lê Thị Thanh H có ký hợp đồng ủy quyền với ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N. Với nội dung: “Bên A là chủ sử dụng diện tích đất tại Tổ D (nay là Tổ A), phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái bị thu hồi theo Quyết định số 1270/QĐ-UBND ngày 21/10/2005 của Ủy ban nhân dân thành phố Y, được điều chỉnh theo các Quyết định số 763/QĐ-UBND ngày 30/5/2007 và Quyết định số 610/QĐ-UBND ngày 13/4/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Y. Bên A ủy quyền cho Bên B được thay mặt và nhân danh Bên A làm việc với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và các bên liên quan, làm các thủ tục pháp lý và ký các giấy tờ cần thiết để giải quyết rõ ràng về mặt pháp lý, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Bên A. Bên A trả thù lao cho Bên B bằng 40% giá trị bất động sản mà Bên A được hưởng quy định tại hợp đồng này. Hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm công chứng và chấm dứt khi các bên đã thực hiện xong các quyền và nghĩa vụ của mình”. (Sau đây là viết tắt Hợp đồng ủy quyền ngày 06/02/2018).
[2.2] Về Hợp đồng ủy quyền ngày 06/02/2018 thì vợ chồng ông H1, bà N và bà H thỏa thuận có hiệu lực kể từ thời điểm công chứng và chấm dứt khi các bên đã thực hiện xong các quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, Hợp đồng chưa được công chứng, nhưng bà H đã thực hiện nghĩa vụ của người được ủy quyền, ông H1, bà N không có ý kiến gì. Theo quy định tại "Điều 562. Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Đồng thời, chứng chỉ quy định về thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền nhưng không có quy định về việc bắt buộc phải công chứng hợp đồng này. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm ông H1, bà N không thừa nhận việc đã ký vào Hợp đồng ủy quyền ngày 06/02/2018, nhưng tại phiên tòa sơ thẩm ông H1, bà N thừa nhận có văn bản ủy quyền này nhưng do không được công chứng nên không có hiệu lực pháp luật. Tại kết luận giám định 110/C09-P5 ngày 18/5/2020 của V1 Bộ C1 xác định chữ ký và chữ viết đứng tên Trần Thị N, Vũ Quang H1 là chữ ký và chữ viết của bà Trần Thị N, ông Vũ Quang H1. Ông H1, bà N không đồng ý nhưng không đề nghị giám định lại. Hơn nữa, ông H1, bà N là người có năng lực pháp luật dân sự, thỏa thuận các bên xuất phát từ ý chí tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên hợp đồng này có hiệu lực và phải được thực hiện.
[2.2] Về việc thực hiện hợp đồng ủy quyền ngày 06/02/2018: Theo hợp đồng ủy quyền thì bên được ủy quyền phải thực hiện là được thay mặt và nhân danh ông H1, bà N làm việc với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và các bên liên quan, làm các thủ tục pháp lý và ký các giấy tờ cần thiết để giải quyết rõ ràng về mặt pháp lý, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của ông H1, bà N liên quan đến Quyết định số 1270/QĐ-UBND ngày 21/10/2005 của Ủy ban nhân dân thành phố Y, được điều chỉnh theo các Quyết định số 763/QĐ-UBND ngày 30/5/2007 và Quyết định số 610/QĐ-UBND ngày 13/4/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Y trong vụ án hành chính do Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái thụ lý số 02/2018/TLST-HC ngày 30 tháng 01 năm 2018 và số 02a/2018/TLST-HC ngày 31 tháng 01 năm 2018 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa các đương sự: Người khởi kiện: Bà Trần Thị N và ông Vũ Quang H1; người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Y và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; bà Lê Thị Thanh H đã đại diện cho ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N và được Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái chấp nhận tham gia tố tụng trong vụ án hành chính.
Bà H đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện; quá trình Toà án giải quyết vụ án, bà H đã sưu tầm tài liệu, thuê luật sư, trả chi phí cho luật sư (luật sư Lâm Văn Q xác nhận), thu thập tài liệu chứng cứ, trực tiếp gặp, liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền, trực tiếp tham gia tất cả các buổi làm việc và các phiên họp kiểm tra đối chiếu chứng cứ, phiên đối thoại cũng như phiên tòa. Cụ thể: Trong vụ án bà H tham gia viết đơn khởi kiện; ngày 29/01/2018 đến Tòa án nhận thông báo nộp tiền tạm ứng án phí; ngày 30/01/2018 đến nộp biên lai tạm ứng án phí; ngày 20/3/2018 đến nộp giấy ủy quyền tham gia tố tụng; cùng ngày tham gia tiếp cận công khai chứng cứ và tham gia đối thoại; ngày 30/3/2018 gửi đơn sao chụp tài liệu; ngày 02/4/2018 nhận tài liệu sao chụp và tiếp cận chứng cứ, đối thoại; ngày 03/4/2018 tham gia tiếp cận chứng cứ, đối thoại; ngày 19/4/2018 nộp đơn sao chụp tài liệu; ngày 26/4/2018 và ngày 03, 10, 14/5/2018 tham gia xem xét thẩm định; ngày 17/5/2018 tham gia tiếp cận chứng cứ, đối thoại và sao chụp tài liệu; ngày 25/5/2018 tham gia tiếp cận chứng cứ, đối thoại; ngày 13/6/2018 tham gia buổi làm việc với Tòa án; ngày 26/6/2018 nhận tài liệu; ngày 16/7/2018 tham gia tiếp cận chứng cứ, đối thoại; ngày 16/8/2018, ngày 19/9/2018, ngày 12, 30/10/2018, ngày 7, 14, 24/11/2018 tham gia phiên tòa. Tại hồ sơ vụ án hành chính nêu trên bà Trần Thị N chỉ tự mình tham gia và ngày 16/4/2018 nộp tạm ứng chi phí thẩm định; ngày 14/5/2018 nhận lại chi phí thẩm định còn dư; ngày 13/6/2018 nộp đơn và nhận tài liệu sao chụp; ngày 13/8 và ngày 01/11/2018 nộp đơn và nhận tài liệu sao chụp. Hơn nữa, tại các bản khai và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm ông H1, bà N đều thừa nhận bà H là người soạn thảo đơn khởi kiện, nộp tiền tạm ứng án phí và soạn thảo các văn bản cho ông H1, bà N, tham gia tố tụng trong vụ án hành chính (theo ủy quyền của ông H1); ông H1 bà N khai không biết việc thuê và chi phí thuê luật sư tư vấn, bảo vệ quyền lợi cho ông bà nhưng thừa nhận có luật sư tham gia bảo vệ quyền lợi cho ông bà và ông bà không phải là người trả chi phí cho luật sư; đồng thời tại các bản khai cũng như tại phiên tòa ông H1, bà N đều thừa nhận có công sức của bà H, nhưng ông H1, bà N cho rằng do trình bày của ông bà tại phiên tòa đã dẫn đến thỏa thuận đạt được kết quả cuối cùng là ông bà được hưởng 07 thửa đất không có công của bà H.
Tại cấp phúc thẩm đã thu thập các biên bản phiên tòa của vụ án hành chính thụ lý số 02/2018/TLST-HC ngày 30 tháng 01 năm 2018 và số 02a/2018/TLST-HC ngày 31 tháng 01 năm 2018 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” diễn ra vào ngày 19/9/2018, ngày 12, 30/10/2018, ngày 07, 14, 24/11/2018 đã thể hiện bà H là người trình bày tại các phiên tòa nêu trên. Cụ thể tại phiên tòa ngày 07/11/2018 bà H và Luật sư của bà H tranh luận với bên bị đơn và người liên quan đưa đến thỏa thuận tại phiên tòa ngày 14/11/2018 nhất trí với yêu cầu của bà H và cùng nhau xin ngừng phiên tòa để thống nhất thỏa thuận. Đến ngày 24/11/2018 tại phiên tòa ông H1, bà N đã rút yêu cầu khởi kiện khi các bên đã thỏa thuận được, yêu cầu của ông H1, bà N đã được hưởng 07 thửa đất với giá 0 đồng. Do đó, có cơ sở xác định bà H đã thực hiện việc ủy quyền và đã có kết quả. Tuy nhiên, ngày 24/11/2018 bà H đã cùng Luật sư và ông H1, bà N có mặt tại Ủy ban nhân dân tỉnh Y để lập biên bản thỏa thuận với Ủy ban nhân dân tỉnh Y và các bên liên quan (sự việc này được bà Nguyễn Thị H3, ông Lâm Văn Q, ông Đặng Trần C, ông Nguyễn Trương L xác nhận), nhưng bà H không có tên trong biên bản và không ký vào biên bản thỏa thuận. Như vậy, có căn cứ xác định bà Lê Thị Thanh H đã thực hiện được 4/5 công việc của người đại diện tương đương 80%, nên ông H1, bà N phải trả thù lao cho bà H theo hợp đồng ủy quyền ngày 06/02/2018 theo phần bà H đã thực hiện là phù hợp.
[2.3] Xét về mức thù lao: Theo quy định tại Điều 562 Bộ luật dân sự, bên ủy quyền phải trả thù lao theo thỏa thuận; tại Điều 3 hợp đồng ủy quyền ngày 06/02/2018 các bên đã thỏa thuận thù lao bằng 40% giá trị bất động sản mà ông H1, bà N được nhận. Tuy nhiên, bà H đã thực hiện 4/5 công việc bằng 80% theo hợp đồng, nên bà H được nhận 80% số tiền theo hợp đồng.
Cụ thể: Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, xác định 03 lô đất (thửa số 15, 16, 17) do bà H quản lý có vị trí, diện tích, cạnh thửa trùng khớp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông H1, bà N được cấp, có tổng diện tích là 240m², có trị giá: 240m² x 50.000.000đồng/m² = 12.000.000.000đồng.
Đối với 04 lô đất (thửa 18, 19, 20, 21) ông H1, bà N quản lý, không tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản được, bà H đề nghị xác định giá trị như 03 lô đất trên. Do 07 lô đất cùng vị trí, cùng diện tích như nhau, nên áp dụng mức giá theo hội đồng định giá tài sản xác định đối với các lô đất do bà H quản lý là 50.000.000đ/m² x 320m² = 16.000.000.000 đồng (mười sáu tỷ đồng). Tổng giá trị tài sản là 28.000.000.000 đồng.
Như vậy, ông H1, bà N phải trả thù lao cho bà Lê Thị Thanh H theo hợp đồng ngày 06/02/2018 là: 28.000.000.000 đồng x 40% = 11.200.000.000đồng. Bà H được hưởng là 11.200.000.000 đồng x 80% = 8.960.000.000 đồng.
[2.4] Xét kháng cáo của ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N về chịu án phí dân sự sơ thẩm. Theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án thì “ Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận”. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông H1, bà N, buộc ông H1, bà N phải chịu án phí tương ứng đối với phần bà H được chấp nhận cụ thể: 8.960.000.000 đồng = 112.000.000 đồng (4.000.000.000 đồng) + 49.600.000 đồng (4.960.000.000 đồng x 0,1%) = 161.600.000 đồng. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm cũng như tại phiên tòa bà N đề nghị được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông H1, bà N là người cao tuổi, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông H1, bà N.
Do yêu cầu của bà H được chấp nhận thay đổi nên nghĩa vụ chịu án phí của bà H được sửa như sau: Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận cụ thể: 2.240.000.000 đồng = 72.000.000 đồng (2.000.000.000 đồng) + 4.800.000 đồng (240.000.000 đồng x 2%) = 76.800.000 đồng.
[3] Về chi phí thẩm định và định giá tài sản: Do yêu cầu của bà Lê Thị Thanh H được chấp nhận 80% nên chi phí thẩm định và định giá được tính lại như sau: Tổng số tiền chi phí là 5.957.000đồng. Ông H1, bà N phải chịu là 5.957.000 đồng x 80% = 4.765.600 đồng; Bà H phải chịu 5.957.000 đồng x 20% = 1.191.400 đồng. Bà H đã nộp tạm ứng toàn bộ số tiền trên nên ông H1, bà N phải trả lại cho bà H số tiền 4.765.600 đồng.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Cần sửa bản án sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 16-8-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái theo hướng: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Lê Thị Thanh H về việc yêu cầu trả thù lao theo hợp đồng ủy quyền ngày 06/02/2018; Không chấp toàn bộ kháng cáo của ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N về yêu cầu trả thù lao của bà Lê Thị Thanh H và chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm; sửa các điều luật áp dụng theo đúng quy định pháp luật.
[4] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm về việc sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận kháng cáo của bà H; Chấp nhận một phần kháng cáo của ông H1, bà N là không phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án dân sự bị sửa phần có liên quan đến kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 148, Điều 293, khoản 2 Điều 308, Điều 309 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
I. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 16-8-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái về “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền” như sau:
Căn cứ Điều 3, Điều 357, Điều 468, Điều 562, Điều 565, Điều 566, Điều 567 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 161, khoản 1 Điều 165, điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thanh H: Buộc ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N phải trả thù lao cho bà Lê Thị Thanh H số tiền 8.960.000.000 đồng (tám tỷ chín trăm sáu mươi triệu đồng).
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Lê Thị Thanh H về việc hủy hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N với ông Lương Đức L1 và ông Phí Văn V (nếu có tranh chấp thì có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật).
- Về chi phí tố tụng:
- Chi phí giám định: Ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N phải chịu 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà Lê Thị Thanh H phải chịu số tiền là 1.191.400 đồng (một triệu một trăm chín mươi mốt nghìn bốn trăm đồng); ông H1, bà N phải chịu số tiền là 4.765.600 đồng (bốn triệu bảy trăm sáu mươi năm nghìn sáu trăm đồng). Do bà H đã nộp tạm ứng chi phí nên bị đơn ông H1, bà N có nghĩa vụ trả lại cho bà H số tiền là 4.765.600 đồng.
Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành mà ông H1 và bà N chưa thi hành xong số tiền trả thù lao và chi phí tố tụng thì hàng tháng còn phải trả thêm khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương đương với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Về án phí sơ thẩm:
- Ông Vũ Quang H1, bà Trần Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Lê Thị Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 76.800.000 đồng (bảy mươi sáu triệu tám trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 59.600.000 đồng (năm mươi chín triệu sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số: AA/2017/0005206 ngày 09/12/2019 và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2017/0006305 ngày 14/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Bà H còn phải nộp 16.900.000 đồng (mười sáu triệu chín trăm nghìn đồng).
Trả lại cho bà H số tiền tạm ứng án phí kháng cáo quyết định tạm đình chỉ là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2022/0000182 ngày 22/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
II. Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H, bị đơn ông Vũ Quang H1 và bà Trần Thị N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà H được hoàn trả số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số AA/2022/0001652 ngày 06/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
III. Các quyết định khác của bảnsơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Mai Hằng |
Bản án số 38/2023/DS-PT ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI về tranh chấp hợp đồng ủy quyền
- Số bản án: 38/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng ủy quyền
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo của NĐ; Không chấp nhận kháng cáo của BĐ
