Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM KHÊ
TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 38/2021/HSST
Ngày 09-6-2021
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hán Hưởng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quốc Phong
2. Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Phú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2021 đối với:

  1. Bị cáo Đinh Thanh T, sinh năm 1988, tại xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu X, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ văn hoá lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Tiến L, sinh năm 1955; con bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1955. Bị cáo có vợ là Hà Thị M, sinh năm 1988 và 02 người con; con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016. Tiền sự; tiền án: Không. Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10/02/2021 đến ngày 11/02/2021 Đ áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện nay đang tại ngoại tại xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
  2. Bị cáo Trần Quang Đ, sinh năm 1983, tại xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu Xóm T, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ văn hoá lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T, sinh năm 1962; con bà Trần Thị P, sinh năm 1963. Bị cáo có vợ là Trần Thị Thu T, sinh năm 1985 và 02 người con; con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017. Tiền sự; tiền án: Không. Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10/02/2021 đến ngày 11/02/2021 Đ áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện nay đang tại ngoại tại xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
  3. Bị cáo Khổng Ngọc L, sinh năm 1969; tại xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu T, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ văn hoá lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khổng Văn Đ, sinh năm 1939; con bà Nguyễn Thị H (đã chết). Bị cáo có vợ là Hoàng Thị D, sinh năm 1972 và 02 người con; con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1992. Tiền sự; tiền án: Không. Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10/02/2021 đến ngày 11/02/2021 Đ áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện nay đang tại ngoại tại xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
  4. Bị cáo Trần Quang H, sinh năm 1984; tại xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu Xóm T, xã C, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Làm ruộng, trình độ văn hoá lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang Đ, sinh năm 1953; con bà Trần Thị L, sinh năm 1955. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị A, sinh năm 1988 và 03 người con; con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2020. Tiền sự; tiền án: Không. Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10/02/2021 đến ngày 11/02/2021 Đ áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện nay đang tại ngoại tại xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
  5. Bị cáo Trần Văn Đ, sinh năm 1986; tại xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu Xóm T, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ văn hoá lớp 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ không xác định; mẹ đẻ là Trần Thị Đ, sinh năm 1966; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự; tiền án: Không. Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10/02/2021 đến ngày 11/02/2021 Đ áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện nay đang tại ngoại tại xã Cấp Dẫn, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

2.3 Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Đ: Bà Bùi Thu H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 10/02/2021, Trần Quang H, Đinh Thanh T, Trần Văn Đ và Trần Quang Đ đến nhà Khổng Ngọc L ở khu T, xã C, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ chơi. Tại đây L, H, T, Đ và Đ đã rủ nhau đánh bạc, hình thức đánh ba cây Đ thua bằng tiền, trống cửa đặt 50.000 đồng/1 ván, tất cả đều đồng ý. Các đối tượng ngồi đánh bạc tại chiếu nhựa Đ trải sẵn tại gian bếp của nhà L, sử dụng bộ bài có sẵn của nhà L để đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Cẩm Khê phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc 36 quân bài tú lơ khơ; số tiền 43.470.000đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam và 01 chiếc chiếu nhựa.

Thu giữ tại túi áo bên trái của Trần Văn Đ số tiền 148.000đồng, thu giữ tại túi quần bên phải của Đinh Thanh T 01 ví giả da màu đen, bên trong có 8.390.000đồng; thu giữ tại túi áo bên trái của Trần Quang Đ số tiền 60.000đồng. Tại chỗ các đối tượng Đ, T và Đ đều khai nhận số tiền thu giữ ở trên không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Hình thức đánh bạc ba cây sát phạt nhau bằng tiền các đối tượng trên sử dụng là: Người chơi dùng 36 quân bài tú lơ khơ từ A đến 9. Mỗi ván người cầm chương sẽ chia cho mỗi người chơi 03 quân bài.. Sau đó người chơi cộng điểm 03 quân bài của mình (nếu tổng số điểm lớn hơn 10 thì lấy số lẻ( rồi so điểm với 03 quân bài của người cầm chương. Ai cáo điểm hơn người cầm chương thì thắng bạc và được người cầm chương trả số tiền bằng số tiền đã cược, nếu Đ 9 hoặc 10 điểm thì đươci trả gấp đôi số tiền đã cược, nếu thấp điểm hơn người cầm chương thì thua bạc và phải trả cho người cầm chương số tiền đã cược, nếu người cầm chương Đ 9 hoặc 10 điểm thì phải trả cho người cầm chương gấp đôi số tiền đã cược. Nếu số điểm bằng nhau thì tính đến “Chất”, cao nhất là chất rô, sau đó đến chất cơ, chất tép, cuối cùng là chất bích. Ai được 10 điểm lớn nhất thì được cầm chương và chia bài ván tiếp theo.

Khi tham gia đánh bạc L có 6.000.000đồng và H có 5.470.000đồng; L và H sử dụng toàn bộ số tiền này vào mục đích đánh bạc. Trước khi đánh bạc T có 23.390.000đồng, T sử dụng số tiền 15.000.000đồng vào mục đích đánh bạc, số tiền còn lại T cất trong ví, không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Đ có 5.148.000đồng, Đ sử dụng 5.000.000đồng vào mục đích đánh bạc, số tiền còn lại không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Đ có 12.060.000đồng, Đ sử dụng 12.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, số tiên 60.000đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 43.470.000đồng.

Tại cơ quan điều tra, các đối tượng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau về hình thức, thủ đoạn phạm tội và phù hợp các tài liệu, chứng cứ đã thu thập Đ.

Cáo trạng số 21/CT-VKSCK ngày 28/4/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo: Trần Quang H, Đinh Thanh T, Trần Văn Đ, Trần Quang Đ và Khổng Ngọc L đều phạm tội: “Đánh bạc”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt các bị cáo phạm tội: “Đánh bạc” và đề nghị:

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Đinh Thanh T, Trần Quang Đ, Trần Quang H, Trần Văn Đ. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Khổng Ngọc L.

Xử phạt bị cáo Đinh Thanh T và bị cáo Trần Quang Đ, mỗi bị cáo từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Xử phạt bị cáo Trần Quang H và bị cáo Trần Văn Đ, mỗi bị cáo từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Xử phạt bị cáo Khổng Ngọc L số tiền từ 22.000.000đồng đến 25.000.000đồng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Khấu trừ thu nhập: Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Trần Quang H, Đinh Thanh T, Trần Văn Đ và Trần Quang Đ.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu toàn bộ số tiền 43.470.000đồng đồng để sung quỹ nhà nước. Trả lại cho bị cáo Đ số tiền 148.000đồng; trả bị cáo Đ số tiền 60.000đồng; trả cho bị cáo T 01 ví giả da và số tiền bị thu giữ 8.390.000đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Tịch thu 01 chiếc chiếu nhựa không còn giá trị sử dụng để tiêu hủy. Tịch thu 36 quân bài tú lơ khơ để tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo: Trần Quang H, Đinh Thanh T, Trần Văn Đ, Trần Quang Đ và Khổng Ngọc L, mỗi bị cáo đều phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã Đ tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa đã xác định Đ: Vào khoảng 15 giờ ngày 10/02/2021, tại nhà ở của Khổng Ngọc L ở khu T, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ, các đối tượng Khổng Ngọc L, Trần Quang H, Đinh Thanh T, Trần Văn Đ và Trần Quang Đ đã có hành vi đánh bạc, hình thức đánh ba cây sát phạt nhau bằng tiền; kết quả điều tra đã xác định Đ tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 43.470.000đồng.

Như vậy, bản cáo trạng số 21/CT-VKSCK ngày 28/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Đinh Thanh T, Trần Quang Đ và Trần Quang H. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn Đ. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Khổng Ngọc L.

Tuyên bố các bị cáo Khổng Ngọc L, Trần Quang H, Đinh Thanh T, Trần Văn Đ và Trần Quang Đ đều phạm tội “Đánh bạc”.

  • Xử phạt bị cáo Đinh Thanh T 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.
  • Xử phạt bị cáo Trần Quang Đ 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.
  • Xử phạt bị cáo Trần Quang H 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ.
  • Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ.
  • Phạt bị cáo Khổng Ngọc L số tiền 23.000.000đ (Hai mươi ba triệu đồng).
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- VKSND huyện Cẩm Khê;
- Thi hành án hình sự;
- Thi hành án dân sự;
- Bị cáo;
- Lưu HS+VP;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Hán Hưởng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2021/HSST ngày 09/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ về đánh bạc

  • Số bản án: 38/2021/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HSST bị cáo Đinh Thanh T phạm tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger