|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 38/2021/HS-ST Ngày: 02 - 7 - 2021 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Hữu San
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Văn Bốn
- Bà Phan Thị Bích
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2021/TLST-HS, ngày 07 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2021/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 6 năm 2021 đối với các bị cáo:
- Lý Văn X (tên gọi khác: Lý Văn S), sinh ngày 15/8/1992 tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: Thôn B, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Văn Kiến, sinh năm 1964; con bà: Đặng Thị Pòng, sinh năm 1967; vợ: Lý Thị L, sinh năm 1990 (là bị cáo trong cùng vụ án); con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Lý Thị L, sinh ngày 09/8/1990 tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: Thôn B, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn Cải (đã chết); con bà Bàn Thị Đày, sinh năm 1969; chồng: Lý Văn X, sinh năm 1992 (là bị cáo trong cùng vụ án), con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Lý Văn T, sinh năm 1987 (không xác định được ngày, tháng) tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: Thôn B, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn Kiến, sinh năm 1964; con bà Đặng Thị Pòng, sinh năm 1967; vợ: Đặng Thị Mẹo, sinh năm 1985; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Người bào chữa cho các bị cáo Lý Văn X, Lý Thị L, Lý Văn T: Ông Hoàng Văn V – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
- Nguyên đơn dân sự: Ban quản lý rừng đặc dụng C; địa chỉ: Thôn 4 Làng Bát, xã Tân Thành, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn X; chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nông Giang N; chức vụ: Phó Giám đốc (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu năm 2020, do có ý định làm lại nhà đang ở nên Lý Văn X một mình đến khu rừng đặc dụng tại Lô 28, khoảnh 37 thuộc thôn B, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang tìm gỗ để làm nhà. Khi đến nơi X thấy có 01 cây Trai Lý còn sống và 02 thân cây gỗ Nghiến đã bị cắt gốc đổ từ lâu có thể xẻ để lấy gỗ nên vào khoảng tháng 8/2020 (ngày không xác định) X mang theo 01 máy cưa xăng nhãn hiệu Husqvarna, màu da cam đi lên khu rừng đặc dụng tại lô khoảnh trên và sử dụng cưa xăng cắt đổ cây gỗ Trai Lý có khối lượng là 1,898 m³. Sau đó, Xoát về nhà mục đích chờ cây khô sẽ lên xẻ để lấy gỗ, do xác định xẻ gỗ sẽ mất nhiều thời gian nên X nảy sinh ý định rủ vợ là chị Lý Thị L và anh trai ruột là Lý Văn T cùng lên khai thác.
Khoảng đầu tháng 11/2020 (không xác định ngày cụ thể) X nói với vợ là Lý Thị L “Nhà bị hỏng rồi, anh đi tìm được cây Trai bây giờ đi lên xẻ về sửa lại nhà, em nấu cơm xong là mang cơm đi, mang cả nước đi nữa để đi cắt cây”, L đồng ý. Sau đó L chuẩn bị cơm, nước, còn X chuẩn bị cưa xăng để cắt gỗ; khoảng 16 giờ cùng ngày, X và L đến vị trí cây Trai Lý mà X đã cắt gốc trước đó, X sử dụng cưa xăng cắt cây ra thành nhiều đoạn, khi đang cắt đến đoạn thứ hai thì cưa xăng bị hỏng không cắt được nữa nên X tháo lam xích ra cho vào túi và cùng L đi về. Khoảng 16 giờ ngày 24/11/2020, X và L tiếp tục đi lên khai thác cây Trai Lý đã cắt dở lúc trước, X dùng cưa xăng để cắt cây còn L giúp X kê đà, bật mực, cùng cắt xẻ cây gỗ thành 08 đoạn gỗ (đoạn có đường kính nhỏ nhất là 28cm, đường kính lớn nhất là 56cm; ngắn nhất là 0,3m; dài nhất là 6,6m), tổng khối lượng gỗ Trai Lý mà X và L khai thác là 1,8 m³; còn lại 01 đoạn gốc có khối lượng là 0,098m³ X cắt bỏ tại hiện trường. Sau khi xẻ xong X và L đi về nhà.
Khoảng 13 giờ ngày 26/11/2020, X bảo L gọi điện thoại cho Lý Văn T nhờ cùng đi xẻ gỗ giúp thì T đồng ý. Xoát chuẩn bị thêm 01 cưa xăng do X mượn của ông Hoàng Văn F (hiện đang ở cùng với mẹ đẻ của L) sinh năm 1964, trú tại thôn 1 Yên Lập, xã P, huyện H, tỉnh Tuyên Quang để cho T sử dụng; L chuẩn bị cơm, nước uống, 03 đèn pin. Sau đó, 3 người cùng đến khu rừng đặc dụng tại lô khoảnh trên để khai thác 02 thân cây gỗ Nghiến mà X đã tìm thấy trước đó, X và T mỗi người sử dụng 01 chiếc cưa xăng để xẻ cây, L hộ bật mực, kê đà và soi đèn pin cho X và T xẻ gỗ. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, X và T xẻ cây gỗ Nghiến đầu tiên được 15 thanh (hộp) có kích cỡ dài, rộng và dày khác nhau sau đó nghỉ ăn cơm rồi tiếp tục xẻ cây gỗ nghiến thứ hai (cách vị trí cây đầu tiên khoảng 30 mét). Đến khoảng 02 giờ ngày 27/11/2020 thì xẻ được thêm 10 thanh gỗ Nghiến sau đó cả ba đi về nhà, trên đường về thì bị tổ công tác Trạm kiểm lâm Y, thuộc hạt kiểm lâm rừng đặc dụng C phát hiện và đưa về cơ quan Kiểm lâm làm việc.
Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 03/12/2020, xác định: Phần lâm sản bị thiệt hại thuộc lô 28, Khoảnh 37 chức năng đặc dụng, do Ban quản lý rừng đặc dụng C quản lý (Theo bản đồ điều chỉnh quy hoạch phân 3 loại rừng ban hành kèm theo quyết định số 1859/QĐ-UBND ngày 31/12/2016 của UBND tỉnh Tuyên Quang), thuộc địa phận thôn B, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Tổng khối lượng lâm sản (Gỗ) bị khai thác là 4,694 m³, trong đó 1,898 m³ là gỗ Trai Lý và 2,796 m³ gỗ Nghiến, Nhóm IIA gỗ thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm. X và L trực tiếp khai thác 4,694 m³; T cùng X và L khai thác 2,796 m³ gỗ Nghiến.
Tại kết luận định giá tài sản số 05/ KL-HĐĐGTS ngày 10/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H Kết luận: Gỗ Trai Lý gỗ tròn nhóm IIA (gỗ thuộc loài nguy cấp, quý hiếm), tổng lâm sản thiệt hại 1,898m³ (Một phẩy tám chín tám mét khối) có trị giá là: 22.413.000đ (Hai mươi hai triệu bốn trăm mười ba nghìn đồng).
Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 11/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, Kết luận: Gỗ Nghiến gỗ xẻ nhóm IIA (Gỗ thuộc loại nguy cấp, quý hiếm) tổng lâm sản thiệt hại 2.796m³ (Hai phẩy bảy chín sáu mét khối) có trị giá là: 34.776.000đ (Ba mươi tư triệu bảy trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).
Tại Cáo trạng số 31/CT-VKSHY, ngày 06/5/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố Lý Văn X, Lý Thị L về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm e khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự; truy tố Lý Văn T về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm e khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về việc xem xét hành vi của Lý Văn X (Lý Văn S), Lý Thị L, Lý Văn T.. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lý Văn X (Lý Văn S), Lý Thị L, Lý Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất và cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.
Hành vi của các bị cáo còn được chứng minh bằng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2020 đến ngày 27/11/2020, tại khu rừng đặc dụng tại Lô 28, khoảnh 37 thuộc thôn B, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang do Ban quản lý rừng đặc dụng C quản lý, Lý Văn X, Lý Thị L, Lý Văn T đã có hành vi khai thác lâm sản (gỗ) trái phép với mục đích để lấy gỗ làm nhà. Cụ thể: Đầu tháng 8/2020 (ngày không xác định) Lý Văn X đã có hành vi dùng cưa xăng khai thác trái phép (cắt đổ) 01 cây gỗ Trai Lý có khối lượng 1,898 m³ gỗ; khoảng đầu tháng 11/2020 (không xác định ngày) và ngày 24/11/2020, X và Lý Thị L có hành vi dùng cưa xăng khai thác trái phép cây gỗ Trai Lý trên với khối lượng 1,8 m³; ngày 26/11/2020 và 27/11/2020, X cùng với Lý Thị L và Lý Văn T có hành vi dùng cưa xăng khai thác trái phép 02 thân cây gỗ Nghiến được 25 hộp gỗ có tổng khối lượng gỗ khai thác là 2,796 m³.
[2] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, làm nghiêm trọng thêm hiện tượng khai thác cây rừng trái phép tại khu rừng đặc dụng nói riêng và tại địa phương nói chung. Trong vụ án này các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, không có tổ chức.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm e khoản 1 và điểm e khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Các bị cáo Lý Văn X (Lý Văn S), Lý Thị L, Lý Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
1. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 232; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Văn X (Lý Văn S) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (02/7/2021).
- Xử phạt bị cáo Lý Thị L 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 04 (bốn) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (02/7/2021).
- Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 232; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 02 (hai) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (02/7/2021).
2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 03 chiếc đèn pin đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 cưa xăng nhãn hiệu HUSQVARNA màu da cam.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Các bị cáo Lý Văn X, Lý Thị L, Lý Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, nguyên đơn dân sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện H; - Công an huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - UBND xã Y, huyện H; - Các bị cáo, nguyên đơn dân sự; - Sở Tư pháp; - Lưu HSVA, HSTHAHS. |
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Hữu San |
Bản án số 38/2021/HS-ST ngày 02/07/2021 của Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Số bản án: 38/2021/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Văn X cùng đồng bọn bị xét xử về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
