TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 38/2021/HNGĐ-ST Ngày: 26/02/2021 V/v " Tranh chấp ly hôn" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Phong
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hưng
2. Ông Lê Việt Hùng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên toà:
Không tham gia
Trong ngày 26 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 573/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1982 (xin vắng) Địa chỉ: 12B/1 ấp T, xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
Bị đơn: Anh Hồ Minh G, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: 12B/1 ấp T, xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 1998 qua quen biết tìm hiểu nhau chị Nguyễn Thị Bích L và anh Hồ Minh G đã tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo tập quán nhưng đến nay vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian sau ngày cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2005 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, bản thân chị L đã nhiều lần cố gắng khắc phục mâu thuẫn vợ chồng nhưng vẫn không được, chị L và anh G đã không còn chung sống với nhau từ năm 2015
cho đến nay. Nay chị Nguyễn Thị Bích L yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với anh Hồ Minh G.
Về con chung: Có 01 con chung tên Hồ Hoàng L, sinh ngày 22/4/2000.
Hiện nay con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Hồ Minh G vắng mặt mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ và cũng không gửi bản khai ý kiến cho Tòa án.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
Bị đơn anh Hồ Minh G vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị Bích L có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long giải quyết việc hôn nhân của chị và anh Hồ Minh G. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; Bị đơn anh Hồ Minh G vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Thị Bích L và anh Hồ Minh G.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 1998 qua quen biết tìm hiểu nhau chị Nguyễn Thị Bích L và anh Hồ Minh G đã tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo tập quán nhưng đến nay vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích L, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị L và anh G chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1998 đến nay vẫn không đăng ký kết hôn là hôn nhân không hợp pháp, không được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là trái với quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị L và anh G có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Hơn nữa chị L và anh G phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được dẫn đến việc chị L và anh G đã không còn chung sống với nhau từ năm 2015 đến nay cho thấy tình trạng mâu thuẫn giữa chị
L và anh G ngày càng trầm trọng hơn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Bích L và anh Hồ Minh G.
Về con chung: Có 01 con chung tên Hồ Hoàng L, sinh ngày 22/4/2000. Hiện nay con chung đã trưởng thành, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích L là nguyên đơn nên phải chịu toàn bộ án phí giải quyết vụ án hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Áp dụng Điều 14 và Điều 53 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Bích L và anh Hồ Minh G.
Về con chung: Có 01 con chung tên Hồ Hoàng L, sinh ngày 22/4/2000. Hiện nay con chung đã trưởng thành, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích L nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu số 0006341 ngày 16/12/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy
ban nhân dân nơi cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết theo thủ tục phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Huỳnh Tấn Phong |
Bản án số 38/2021/HNGĐ-ST của TAND huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Số bản án: 38/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TAND huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu NĐ
