Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 37a/2025/DS-ST

Ngày: 22 - 5 - 2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng

tín dụng.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Công;
  2. Bà Dương Thị Bạn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 623/2024/TLST- DS ngày 07 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2025/QÐST – DS ngày 25 tháng 4 năm 2025, giữa:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; địa chỉ trụ sở: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1973; thường trú: Số H đường số H, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh – là người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền số 5470/2023/UQ-TGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Mai Quốc H, sinh năm 1973; thường trú: Số B đường D, khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: 63/2 Tổ C, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/5/2024 và quá trình tố tụng, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Minh T trình bày:

Ngày 12/12/2019, ông Mai Quốc H ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (gồm Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân; Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông H thì Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng vói hạn mức sử dụng số tiền là 50.000.000 đồng nhằm mục đích vay tiêu dùng và không có tài sản bảo đảm, cụ thể: Loại thẻ JCB Jspeedy Cre Classic-Phi RTM, số thẻ 256480-5923, lãi suất áp dụng/tháng là 2.766%.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 208.141.329 đồng và các khoản phải thanh toán gồm (Phí trễ hạn 2.969.237 đồng, phí VHM 350.000 đồng, phí 897.000 đồng, lãi trong hạn 43.686.338 đồng). Tổng số tiền ông H phải thanh toán cho Ngân hàng là 256.043.904 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 203.42.182 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/06/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 22/5/2025, ông H còn nợ Ngân hàng tổng cộng: 103.560.822 đồng (Trong đó nợ gốc : 52.619.722 đồng; Lãi quá hạn : 50.941.100 đồng). Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 52.619.722 đồng với lãi suất quá hạn là 4.149%/ tháng (lãi trong hạn 2.766%*150%) từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại. Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông H có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông H vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:

Buộc ông Mai Quốc H phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ số nợ còn tồn tạm tính đến ngày 22/5/2025 tổng cộng số tiền là 103.560.822 đồng (Trong đó nợ gốc : 52.619.722 đồng; Lãi quá hạn : 50.941.100 đồng).

Đồng thời, buộc ông H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng tiền lãi quá hạn, lãi phạt tính từ ngày 23/5/2025 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp để chứng minh yêu cầu khởi kiện: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/12/2019, tóm tắt sao kê tài khoản thẻ của ông Mai Quốc H.

Bị đơn ông Mai Quốc H đã được triệu tập hợp lệ theo quy định nhưng không có văn bản trình bày ý kiến và không tham gia tố tụng.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lẫn thứ hai đối với việc xét xử nhưng vắng mặt không rõ lý do, không đến tham gia phiên tòa xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình.

Về nội dung: Sau khi nghiên cứu tài liệu có tại hồ sơ vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Mai Quốc H đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự

[2] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Mai Quốc H thanh toán số tiền nợ vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/12/2019. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ đơn khởi kiện và biên bản xác minh ngày 03/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thể hiện ông Mai Quốc H có cư trú tại địa chỉ 6 Tổ C, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do vậy, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về nội dung:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Mai Quốc H phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ số nợ còn tồn tính đến ngày 22/5/2025 tổng cộng số tiền là 103.560.822 đồng (Trong đó nợ gốc : 52.619.722 đồng; Lãi quá hạn : 50.941.100 đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/12/2019 được ký giữa các bên. Bị đơn ông Mai Quốc H đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhưng không có văn bản trình bày ý kiến và không tham gia tố tụng, xem như tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ để giải quyết.

Xét thỏa thuận tại phần CAM KẾT thuộc trang số 6/7 của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 12/12/2019 thể hiện nội dung: “Tôi/chúng tôi có nghĩa vụ thanh toán dư nợ đầy đủ và đúng hạn theo yêu cầu của S1” thì ông Mai Quốc H đã chấp nhận các điều khoản của Hợp đồng nên đã ký và viết rõ họ tên và tại Phần dành riêng cho đơn vị cấp thẻ của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 12/12/2019 thể hiện: “Phê duyệt hạn mức tín dụng: 50.000.0000 đồng; Lãi suất tại thời điểm làm thẻ: 2,15%%/tháng”. Nhưng quá trình sử dụng thẻ tín dụng thì ông Mai Quốc H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nêu trên là có căn cứ, phù hợp quy tại các Điều 90, 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng và các 463, 465, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 11 Quyết định số 20/VBHN-NHNN ngày 22/5/2014 của Thống đốc ngân hàng N về ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng có quy định giữa tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thoả thuận mức lãi suất, Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Từ nhận định trên, Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về tranh chấp hợp đồng tín dụng.

[5] Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền nợ phải trả theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 36; Điều 39; Điều 40; khoản 2 Điều 92; Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 463, 465, Điều 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015;
  • Các Điều 90, 91, 95 của Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn ông Mai Quốc H về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc ông Mai Quốc H phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ vay tính đến ngày 22/5/2025 tổng cộng là 103.560.822 đồng (trong đó nợ gốc : 52.619.722 đồng; lãi quá hạn : 50.941.100 đồng).

Tiền lãi được tiếp tục tính kể từ ngày 23/5/2025cho đến khi ông Mại Quốc H thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/12/2019.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Mai Quốc H phải chịu 5.178.041 đồng (Năm triệu, một trăm bảy mươi tám nghìn, không trăm bốn mươi mốt đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.657.526 đồng (Một triệu, sáu trăm năm mươi bảy nghìn, năm trăm hai mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu số 0027218 ngày 30/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37a/2025/DS-ST ngày 22/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 37a/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger