Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 379/2024/HN-PT

Ngày: 29/8/2024

V/v: “tranh chấp hợp đồng tặng cho QSDĐ

Và chia tài sản chung sau khi ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Hoài Bình.

  • - Các Thẩm phán: Bà Hồ Thị Tuyết Phương

  • Bà Lê Thị Minh Trang

  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ.

  • - Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phi – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số: 224/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 6 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng tặng cho QSDĐ và chia tài sản chung sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 342/2024/QĐPT ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị N năm 1953

Địa chỉ: C tổ H, ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ– Có mặt.

Bị đơn: ông Huỳnh Văn Ú năm 1987

Địa chỉ: C tổ H, ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ– Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. ông Huỳnh Việt H năm 1953 – Vắng mặt

  2. Người đại diện hợp pháp cho ông H1 Huỳnh Văn Ú năm 1987, địa chỉ: C tổ H, ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ(theo văn bản ủy quyền ngày 13/3/2023) – Có mặt.

  3. Giảng Thị Tuyết P năm 1989

  4. Địa chỉ: C tổ H, ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ- Có mặt.

  5. Lầu N1 Msinh năm 1978

  6. Địa chỉ: H đường C, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ- Có mặt.

  7. Lê Thị Thanh H2 năm 1985

Địa chỉ: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ– Có mặt.

Người làm chứng:

  1. ông Huỳnh Phú H3 năm 1961

  2. Nguyễn Văn S năm 1989

  3. ông Phan Chí D năm 1958

Cùng địa chỉ: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ– Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N2 bày: bà và ông Huỳnh Việt H4 hôn năm 1978, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G 17/7/1988. Bà và ông H5 05 người con chung là Huỳnh Văn C Ngọc GHuỳnh Ngọc BHuỳnh Mỹ A Huỳnh Văn ÚTrong thời gian chung sống vợ chồng tạo lập được phần đất diện tích 3.278m², thửa 33, tờ bản đồ số 8, trong đó một phần đất do cha mẹ chồng bà cho, phần còn lại diện tích khoảng 1.800m² do mẹ ruột bà cho tiền mua đất và nhà của ông Huỳnh Phú H6 Hđứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02746 ngày 13/01/2015, bà và ông H7 cho các con là Huỳnh Văn C1 nền nhà diện tích 700m², Huỳnh Ngọc G nền nhà diện tích 310m², Huỳnh Mỹ AH 400m². Phần đất còn lại diện tích 1.876m² là tài sản chung của vợ chồng. Ngày 28/11/2019 bà và ông H8 hôn, chưa giải quyết về tài sản chung. Sau đó, bà mới phát hiện ông H9 tặng cho toàn bộ diện tích đất cho ông Huỳnh Văn Ú1 năm 2017. Bà khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 25/11/2017 giữa ông Ú2 ông H10 ông Ú3 cho bà diện tích 628m² đất và ½ giá trị căn nhà bằng số tiền 300.000.000 đồng.

Phía bị đơn ông Huỳnh Văn Ú4 bày: cha của ông là ông Huỳnh Việt H11 phần đất diện tích 3.278m², thửa 33, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02746 ngày 13/01/2015, đất có nguồn gốc của bà nội là bà Phan Thị Hồng N3(chết ngày 26/02/2015 âl) tặng cho ông HNăm 2015 cha của ông tặng cho anh chị em gồm: Huỳnh Văn C2 tích 686m² (thửa 392), Huỳnh Ngọc G1 tích 716m² (thửa 393, 394). Phần còn lại của thửa 33 cha của ông tặng cho ông vào năm 2017, ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS04335 ngày 16/01/2018. Việc tặng cho đất cho các con trong nhà thì mẹ của ông là bà Nguyễn Thị N4 biết, nhưng đây là tài sản riêng của ông H12 Ủy ban nhân dân xã G hợp đồng nói không cần mẹ ông ký tên. Thửa 33 là tài sản của bà nội cho riêng cha của ông, nay cha của ông đã cho lại ông nên ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N5 vẫn đồng ý để bà N6 sống chung và phụng dưỡng bà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Giảng Thị Tuyết P1 bày: thống nhất lời trình bày của chồng bà là ông Huỳnh Văn Ú5

  • - Bà Lầu Nhi M bày: ngày 12/5/2012 bà mua nền nhà diện tích 112,5m² (dài 25m x rộng 4,5m), thuộc thửa 33 cho mẹ là bà Huỳnh Thị Kim H13(đã chết, có 03 người con là Huỳnh Thị T H4Lầu Tấn S1và Lầu Nhi MBà và ông H14 Ncó lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/5/2012, bà đưa đủ tiền mua nền nhà là 30.000.000 đồng cho bà Nông H15(số tiền mua nền nhà do người cô là bà Huỳnh Thị T1 H5đưa cho bà đứng mua). Mẹ của bà ở căn nhà này cùng với anh trai là Lầu Tấn S1(đã chết, có vợ là Lê Thị T2 H1và 01 người con là Lầu Ái M1Bà yêu cầu độc lập buộc ông Ú6 quyền sử dụng đất diện tích qua đo đạc ngang 4,5m x dài 24m cho bà đứng tên.

  • - Bà Lê Thị T2 H1trình bày: căn nhà bà đang ở do mẹ chồng là bà Huỳnh Thị K H3cất năm 2007 trên phần đất của ông Huỳnh Việt H16 2011, do ông Ú7 đất nên chồng của bà là ông Lầu T3 S1đứng ra mua đất với ông Huỳnh V HHuỳnh Văn Ú5(có lập giấy tay nhưng bà không giữ hợp đồng này). Tiền mua đất là 30.000.000 đồng do bà Huỳnh Thị T1 H5(đã chết) cho mẹ chồng bà. Việc nhận chuyển nhượng phần đất bà đang ở không có liên quan đến bà M1 đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/5/2012 do bà M2 làm nên bà không đồng ý với yêu cầu độc lập của bà M

  • - Ông Huỳnh Việt H17 bày: đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông thống nhất ý kiến của ông Ú8 với phần đất bà Huỳnh Thị K H3cất nhà ở từ năm 2007 là do ông cho ở nhờ, không có việc mua bán đất. Ông có nhận số tiền 30.000.000 đồng của bà Huỳnh Thị T1 H5đưa để bà N7 ngăn cản bà H3ở. Sau khi bà H3chết thì bà H1định bán nhà nên ông ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/5/2012 với bà M4M5 quyền trong phần đất này. Thực tế ông không có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà M6 không đồng ý với yêu cầu độc lập của bà M

Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: phần đất thửa 33 được mua trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung, qua đo đạc thửa 33 có diện tích 1.484,7m², bà N8 yêu cầu nhận 1/3 diện tích đất là 495,6m² để cất nhà ở. Về căn nhà ông Hông Ú9 sử dụng được cất năm 1995, làm “giấy tay” mua nhà đất năm 2000, chứng minh đây là tài sản chung, bà N9 cầu hưởng ½ giá trị nhà là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: quá trình chuẩn bị xét xử Thẩm phán thực hiện đúng các quy định pháp luật về tố tụng nhưng vi phạm về thời hạn

giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về xác định quan hệ tranh chấp đề nghị bổ sung thêm quan hệ Chia tài sản chung sau khi ly hôn. Về nội dung vụ án, ông H18N10 05 người con chung, con lớn nhất sinh năm 1978, đến năm 1988 ông Hbà N11 ký kết hôn. Năm 2005 bà Phan Thị H19 N1tặng cho ông H20 sử dụng đất, tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài ra, bà N12 cấp giấy mua bán nhà đất với ông Huỳnh P2 H2phù hợp lời khai của ông H2ông Nguyễn Văn S1 ông Phan Chí DÔng H21 chứng minh phần đất là tài sản được cho riêng. Trên đất có căn nhà được xây dựng năm 2001. Trong quá trình sử dụng đất, ông H22 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông C3 Gthì bà N13 nhất, riêng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Ú10N7 đồng ý. Quyết định ly hôn năm 2019 giữa bà Nông H23 giải quyết về tài sản chung. Vì vậy, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông H24 ông Ú11 phạm Luật Hôn nhân và Gia đình về giao dịch tài sản chung, yêu cầu khởi kiện của bà N14 có căn cứ. Thửa 33 qua đo đạc có diện tích 1.484,7m², bà N9 cầu nhận 1/3 diện tích là sự tự nguyện của đương sự. Do diện tích đất đã sử dụng hết, đề nghị ổn định phần đất cho ông Ú12 ông Ú3 1/3 giá trị đất và ½ giá trị nhà. Đối với yêu cầu độc lập của bà Mbà M7 cấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông H14 Nnhưng lời khai các bên mâu thuẫn, phát sinh thêm tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà M8H1chưa được hòa giải cơ sở, chưa đủ điều kiện thụ lý, cần đình chỉ yêu cầu độc lập, đương sự khi khởi kiện lại thực hiện theo quy định pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023-DS-ST ngày 21/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ đã quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Huỳnh Văn Ú13 cho bà Nguyễn Thị N15 tiền 305.224.000 đồng (Ba trăm lẻ năm triệu hai trăm hai mươi bốn nghìn đồng).

Ông Huỳnh Văn Ú14 quyền sử dụng đất diện tích 1.376,7m², thửa 33, đất tọa lạc tại ấp T, xã G, huyện P, thành phố C giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS04335 của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C ngày 16/01/2018 cho ông Huỳnh Văn Ú5(Kèm theo Bản trích đo địa chính số 78/TTKTTNMT ngày 23/9/2022 của Trung tâm K1

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà L N2Mụi đối với diện tích 108m² (ngang 4,5m x dài 24m), thuộc một phần thửa 33. Dành quyền khởi kiện cho đương sự thành vụ án khác khi có đủ điều kiện khởi kiện.

Ngoài ra bản án phần án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 28/4/2023 nguyên đơn bà Nguyễn Thị N16 kháng cáo một phần Bản án yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét công nhận cho nguyên đơn được nhận hiện vật đối với phần đất có diện tích 400m².

Ngày 26/4/2023 ông Huỳnh Việt H25 cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng bác đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị N17 công nhận quyền sở hữu của bà Phan Thị H19 N1 tặng cho ông Huỳnh Việt H26 và công nhận quyền tặng cho quyền sử dụng đất của ông H27 ông Huỳnh Văn Ú5

Ngày 26/4/2023 ông Huỳnh Văn Ú15 cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm bác đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và công nhận quyền sở hữu của ông Ú16 với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 33, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.571m² trong đó có 300m² thổ cư.

Ngày 26/4/2023 bà Giảng Thị Tuyết P3 cáo yêu cầu cấp phúc thẩm bác đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như đã trình bày. Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát:

  • - Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng là đúng trình tự thủ tục luật định.

  • - Về nội dung: sau khi phân tích nội dung án sơ thẩm và nội dung đơn kháng cáo, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị sửa án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N16 không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Văn Uống Huỳnh Việt H28Giảng Thị Tuyết P4

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết và xác định quan hệ tranh chấp là đúng thẩm quyền và đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung kháng cáo của các đương sự:

[2.1] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N18 cầu cấp

phúc thẩm xem xét cho bà được nhận hiện vật là 400m² vì hiện nay bà chưa có nhà riêng để ở mà phải sống chung với con gái và con rể bị bệnh tâm thần, con rể thỉnh thoảng gây tổn thương về mặt tinh thần cho bà, gây xáo trộn và âu lo trong cuộc sống của bà. Xét về nguồn gốc đất bà N2 bày phần đất tranh chấp diện tích 1.876m² là tài sản chung của vợ chồng bà. Năm 2019 vợ chồng bà ly hôn nhưng chưa giải quyết về tài sản nhưng vào năm 2017 ông H9 tự ý lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Văn Ú5(con trai út của ông bà). Bà khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 25/11/2017 giữa ông Ú2 ông H10 ông Ú13 cho bà diện tích 628m² đất và ½ giá trị căn nhà bằng số tiền 300.000.000 đồng. Cấp sơ thẩm nhận định hiện trạng phần đất có căn nhà ông H1 Úđang sử dụng, phần còn lại đều là mương và khu mộ, không thể chia đất mương theo yêu cầu của bà Nông Ú17 sử dụng đất ổn định, sống chung với ông H12 công nhận quyền sử dụng đất cho ông Ú18N8 yêu cầu nhận 1/3 diện tích thửa 33 nên buộc ông Ú19 hoàn 1/3 giá trị quyền sử dụng đất và ½ giá trị nhà cho bà N19 số tiền ((300m² x 750.000 đồng/m²) + (1.076,7 x 450.000 đồng/m²))/3 + 137.437.960/2 = 305.224.000 đồng. Tuy nhiên, Qua đo đạc thực tế tại cấp sơ thẩm thửa 33 có diện tích thực tế là 1.484,7m², trừ phần đất bà N20 nhận đã chuyển nhượng cho bà L N2Mụi thì diện tích còn lại là 1.376,7m². Theo lời trình bày của bà N21 bà chỉ cần được chia 400m² đất nếu rơi vào phần mương thì bà tự san lấp lại để cất nhà ở. Nhận thấy yêu cầu kháng cáo của bà N14 chính đáng nên có cơ sở để cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận.

[2.2] Xét nội dung kháng cáo của ông Huỳnh V HHuỳnh Văn Úvà chị Giảng Thị Tuyết P5 việc bác yêu cầu khởi kiện của bà N22 rằng: Các bên đều thống nhất phần đất thửa 33, tờ bản đồ số 08 có nguồn gốc của bà Phan Thị H19 N1Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00387 ngày 21/9/1993 cấp cho bà N1thì phần đất này là thửa 380, tờ bản đồ số 03. Ông Ú20 rằng phần đất này của bà nội (bà N1tặng cho cha của ông là ông Huỳnh Việt H29 tài sản riêng của ông H30 ông H11 toàn quyền tặng cho lại cho ông Ú21 không cung cấp được bất kỳ chứng cứ nào chứng minh cho việc đó là tài sản được tặng cho riêng của ông HPhía bà N23 rằng bà N1đã chia đất cho con là ông Huỳnh P2 H2ngày 12/10/2000 ông H2ký giấy thỏa thuận đồng ý nhường lại toàn bộ tài sản của gia đình là nhà và đất vườn ruộng cho ông H24 giá 26.000.000 đồng. Việc mua nhà và đất trong thời kỳ hôn nhân, có lập giấy thỏa thuận giữa ông H2với ông Hbà N24 quyền sử dụng đất và căn nhà gia đình bà Nsử dụng từ năm 2000 là tài sản chung của vợ chồng ông H14 Ntheo đúng quy định của pháp luật hiện hành. Mặc dù thời

điểm này bà N1đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà N1cũng biết sự việc “thỏa thuận mua bán nhà và đất vườn” và đồng ý ký tên. Chứng cứ này cũng phù hợp với lời khai của những người làm chứng là ông Huỳnh Phú H2ông Nguyễn Văn S2 ông Phan Chí D1

Năm 2019 ông H14 Nly hôn nhưng chưa giải quyết chia tài sản chung. Tuy nhiên, lần lượt các năm 2014, năm 2017 ông H7 cho hết các phần đất cho những người con là Huỳnh Văn CHuỳnh Ngọc G2 Huỳnh Văn ÚBà Nthống nhất các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông H24 ông Cbà G3 có yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 25/11/2017 giữa ông H24 ông ÚDo ông H31 mình xác lập giao dịch, không có sự đồng ý của bà N24 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 25/11/2017 vô hiệu một phần. Do ông H7 cho ông Ú22 khi chưa có sự đồng ý của bà N24 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 25/11/2017 vô hiệu một phần đối với phần quyền của bà N25 án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không tuyên vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 25/11/2017 là thiếu sót.

Ông Hông Ú23 chị Pkháng cáo nhưng không cung cấp thêm bất kỳ chứng cứ nào chứng minh tài sản tranh chấp là tài sản riêng của ông H32 thời kỳ hôn nhân với bà N24 không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo.

[3] Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn yêu cầu đo đạc lại, xác định vị trí yêu cầu được chia. Tòa án đã phối hợp với cơ quan chuyên môn tiến hành đo đạc lại phần đất tranh chấp theo yêu cầu của nguyên đơn đến lần thứ hai, nhưng phía bị đơn không cho đo đạc, chỉ đồng ý cho xem xét thực địa. Chính vì vậy, Tòa án có văn bản yêu cầu Trung tâm K2(nay là Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở T thành phố Ctách phần đất bà N18 cầu được nhận trên cơ sở của Bản trích đo địa chính số 78/TTKTTNMT ngày 23/9/2022 của Trung tâm K1 CTừ đó, Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở T Cban hành Bản trích đo địa chính số 618/VPĐKĐĐ ngày 26/8/2024 (Bản trích đo địa chính số 618), nên áp dụng Bản trích đo địa chính số 618 để xác định vị trí yêu cầu được nhận tài sản của bà NDo đó, chia cho bà N diện tích 400m²(trong đó có 100m² đất ONT, 300m²đất CLN) tại vị trí A, theo Bản trích đo địa chính số 618là có căn cứ, ông Ú24 có nghĩa vụ tách phần đất diện tích nêu trên cho bà N theo quy định pháp luật.

[4] Ngoài ra, đối với tài sản là căn nhà trên đất, Bản án sơ thẩm xác định tổng giá trị căn nhà 137.437.960 đồng là không đúng, bởi vì; trong tổng giá trị này có giá trị của nhà mồ và 03 ngôi mộ. Vì vậy cần xác định lại giá trị tài sản trên đất

N26 chia là 50.067.800 đồng (100.135.600 đồng/2). Bên cạnh đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Ú13 giá trị tài sản cho bà N27 không công nhận căn nhà cho ông Ú25 sai sót. Nên cần sửa án sơ thẩm, công nhận căn nhà cho ông Ú26 khi ông Ú13 giá trị cho bà N

Bà Nlà người được chia tài sản chung, theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH thì bà N28 chịu án phí trên giá trị tài sản được chia, do bà N14 người cao tuổi nên được miễn án phí; Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Ú24 chịu án phí là không đúng; trong trường hợp này, ông Ú27 phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu hủy một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của bà N26 Tòa án chấp nhận.

[4] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ là phù hợp nên chấp nhận.

[5] Về án phí:

Về án phí sơ thẩm: Ông Huỳnh Văn Ú28 chịu án phí 300.000 đồng án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu hủy một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của bà N26 Tòa án chấp nhận.

Nguyễn Thị N29 chịu án phí trên phần tài sản được chia nhưng do là người cao tuổi nên được miễn.

Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N30 phải chịu án phí. Ông Huỳnh Việt H33 miễn do là người cao tuổi. Ông Huỳnh Văn Ú29Giảng Thị Tuyết P6 chịu án phí.

Về chi phí thẩm định tài sản: Bà Nguyễn Thị N29 chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên án: Sửa án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Việt H34 Huỳnh Văn Ú29 chị Giảng Thị Tuyết P4

[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2] Hủy một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 25/11/2017 giữa ông Huỳnh Việt H26 và ông Huỳnh Văn Ú5 đối với phần quyền của bà Nguyễn Thị N16.

[3] Ổn định và công nhận phần đất có diện tích 400m² (Trong đó có 100 m² đất ODT và 300 m² đất CLN) tại vị trí A trên Bản trích đo địa chính số 618/TTKTTNMT ngày 26/8/2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố K1Nguyễn Thị N16. (Kèm theo bảng trích đo)

Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS04335 ngày 16/01/2018 do ông Huỳnh Văn Ú30 tên để cấp cho bà Nguyễn Thị N31 vị trí A trên Bản trích đo địa chính số 618/TTKTTNMT ngày 26/8/2024 của Trung tâm K1.

[4] Ông Huỳnh Văn Ú14 quyền sử dụng đất diện tích 1.084,7m² (trong đó có 200m² đất ONT, 884,7m² đất CLN) phố Ctheo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS04335 của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C ngày 16/01/2018 cho ông Huỳnh Văn Ú5(Kèm theo Bản trích đo địa chính số 618/TTKTTNMT ngày 26/8/2024 của Trung tâm K1

[5] Buộc ông Huỳnh Văn Ú13 cho bà N32 đồng (Năm mươi triệu, không trăm sáu mươi bảy ngàn, tám trăm đồng). Ông Huỳnh Văn Ú14 quyền sử dụng căn nhà cấp 4 trên đất tại thửa 33, đất tọa lạc tại ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ.

[6] Các đương sự được quyền liên hệ với các cơ quan chức năng để đăng ký biến động về đất đai đối với phần diện tích được ổn định và công nhận.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7] Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà L N2Mụi đối với diện tích 108m² (ngang 4,5m x dài 24m), thuộc một phần thửa 33. Dành quyền khởi kiện cho đương sự thành vụ án khác khi có đủ điều kiện khởi kiện.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà N26 miễn án phí. Ông Ú28 chịu 300.000 đồng án phí không có giá ngạch. Bà M9 nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0007134 ngày 01/3/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phong Điền.

Chi phí đo đạc, định giá sơ thẩm: ông Út c 5.000.000 đồng; bà N33 nộp tạm ứng 5.000.000 đồng nên ông Ú31 nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà N34 đồng.

Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N16 không phải chịu. Ông Huỳnh Việt H26 được miễn án phí phúc thẩm. Anh Huỳnh Văn Ú28 chịu 300.000 đồng khấu trừ 300.000 đồng ông Ú32 nộp theo biên lai thu số 0007901 ngày 26/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền. Chị Giảng Thị Tuyết P6 chịu 300.000 đồng ông Ú32 nộp theo biên lai thu số 0007902 ngày 26/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.

Về chi phí đo đạc, định giá tài sản cấp phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N29 chịu 5.450.000 đồng. Bà N33 nộp và chi xong.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

H35

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 379/2024/HN-PT ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tặng cho qsdđ và chia tài sản chung sau khi ly hôn

  • Số bản án: 379/2024/HN-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tặng cho QSDĐ Và chia tài sản chung sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger