TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 379/2024/DS-PT Ngày 25-7-2024 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng đặt cọc và tranh chấp về thừa kế tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền. |
| Các Thẩm phán: | Ông Lê Sỹ Trứ. |
| Bà Ngô Thị Bích Diệp. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phước – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 và 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 222/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng đặt cọc và tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 15/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 259/2024/QĐ-PT, ngày 19 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 392/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn.
1. Bà Ngô Thị Thanh H, sinh năm 1977; địa chỉ: số E, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trịnh Minh T, sinh năm 1988; địa chỉ: số A đường số A, khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 14/12/2021); có mặt.
2
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm 1968; địa chỉ: số B, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Ngọc H1: Ông Nguyễn Duy B, Luật sư của Văn phòng L; địa chỉ: số F, đường T, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bị đơn
1. Bà Trần Thanh T1, sinh năm 1969; địa chỉ: số F, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bà Trần Thanh T1: Ông Đoàn Văn Đ, sinh năm 1959; địa chỉ: số A, đường L, khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền; có mặt.
2. Ông Trương Quang K, sinh năm 1971 (chết ngày 04/4/2022).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông K:
- + Bà Trần Thanh T1, sinh năm 1969; địa chỉ: số F, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- + Ông Trương Khánh H2, sinh năm 1993; địa chỉ: số F, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương
- + Bà Trương Thị Mỹ N, sinh năm 1994; địa chỉ: số F, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bà Trần Thanh T1, ông Trương Khánh H2 và bà Trương Thị Mỹ N: Ông Đoàn Văn Đ, sinh năm 1959; địa chỉ: số A, đường L, khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị Ngọc Đ1, sinh năm 1961; địa chỉ: số H, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Bà Trương Thị M, sinh năm 1959; địa chỉ: số A, đường Đ, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Bà Trương Thị T2, sinh năm 1969; địa chỉ: số F, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Bà Hồ Thị Ngọc D, sinh năm 1975; địa chỉ: số F, đường T, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3. Bà Bùi Thị Y, sinh năm 1963; địa chỉ: số A, đường số H, khu công nghiệp T, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Ngô Thị Thanh H; bị đơn bà Trần Thanh T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Trịnh Minh T trình bày:
Ngày 29/01/2019, bà H và bà Trần Thanh T1 (vợ của ông Trương Quang K, được ông K ủy quyền theo Hợp đồng ủy quyền ngày 18/7/2013) có ký cam kết về việc thỏa thuận chuyển nhượng một phần diện tích quyền sử dụng đất. Theo đó, ông K đồng ý chuyển nhượng cho bà H quyền sử dụng đất có diện tích 205,7m² thuộc một phần thửa đất 8918, tờ bản đồ số 2BA.8, mục đích sử dụng đất là đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK302281, số vào số cấp giấy chứng nhận H06374 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Dĩ An cấp ngày 21/01/2008. Giá chuyển nhượng là 900.000.000 đồng. Bà H đã thanh toán đủ số tiền trên và việc cam kết này được Văn phòng T3 lập Vi bằng số 128/2019/VB-TPL ngày 29/01/2019. Sau khi giao nhận tiền hoàn tất, phía ông K đã bàn giao đất trên thực địa cho bà H cắm mốc ranh giới đất, tuy nhiên không có lập biên bản bàn giao.
Đến ngày 08/4/2019, bà H và bà Trần Thanh T1 tiếp tục thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng 100m2 đất thuộc một phần thửa đất số 8918, tờ bản đồ số 2BA.8 với giá là 450.000.000 đồng. Bà H đã thanh toán số tiền 400.000.000 đồng, số tiền 50.000.000 đồng còn lại hai bên thỏa thuận khi nào công chứng hợp đồng chuyển nhượng thì sẽ thanh toán. Bà H đã nhiều lần yêu cầu ông K thực hiện thủ tục đo vẽ, tách thửa để sang tên nhưng ông K vẫn chưa thực hiện.
Đến ngày 04/8/2020, ông K muốn chuyển nhượng cho bà H toàn bộ diện tích đất trồng cây lâu năm còn lại (sau khi trừ đi 300m², trong đó có căn nhà số F, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương). Hai bên tiếp tục làm hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thỏa thuận giá chuyển nhượng 7.000.000 đồng/m2, diện tích chuyển nhượng căn cứ theo diện tích đo vẽ thực tế. Hai bên thỏa thuận đặt cọc số tiền 100.000.000 đồng để thực hiện việc đo vẽ, xin xác nhận tình trạng bất động sản. Trong vòng 60 ngày, kể từ ngày ký thỏa thuận đặt cọc, ông K phải có trách nhiệm đo vẽ, xin xác nhận tình trạng bất động sản để ký hợp đồng công chứng. Đến ngày 31/01/2020, ông K vẫn không hoàn tất thủ tục đo vẽ, tách thửa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà H.
Ngoài ra, ngày 01/9/2020 bà H có nhận chuyển nhượng lại phần đất có diện tích 150m² thuộc một phần thửa số 8918, tờ bản đồ số 2BA.8, mục đích sử dụng đất là đất trồng cây lâu năm từ bà Lê Thị Ngọc Đ1, bà Đ1 đã nhận chuyển nhượng của ông Trương Quang K trước đó. Việc bà H nhận chuyển nhượng này có ông Trương Quang K xác nhận và cam kết nếu không thực hiện thủ tục chuyển nhượng cho bà H thì sẽ bồi thường gấp đôi số tiền đã nhận.
Quá trình mua bán, các bên chưa ký hợp đồng chuyển nhượng tại phòng công chứng theo quy định. Nay bà H yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
+ Buộc bà Trần Thanh T1 và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trương Quang K thực hiện thủ tục chuyển nhượng diện tích 460,2m² (loại
4
đất trồng cây lâu năm) thuộc 01 phần thửa số 8918 tờ bản đồ 2BA.8 tọa lạc khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H06374 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Dĩ An cấp ngày 21/01/2008;
+ Trường hợp bà Trần Thanh T1 và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trương Quang K không tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng diện tích 460,2m² thì phải trả cho bà Ngô Thị Thanh H khoản tiền đã nhận 2.030.000.000 đồng (hai tỷ không trăm ba mươi triệu đồng) và bồi thường 01 khoản tương đương số tiền đã nhận. Tổng cộng là 4.060.000.000 đồng (bốn tỷ không trăm sáu mươi triệu đồng).
Tại phiên tòa, bà H xác định yêu cầu Tòa án tuyên các hợp đồng ngày 29/01/2019, ngày 08/4/2019, ngày 04/8/2020 bị vô hiệu, buộc bị đơn bà T1 và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông K phải trả khoản tiền đã nhận gồm: 900.000.000 đồng; 400.000.000 đồng; 130.000.000 đồng và bồi thường 01 khoản tiền tương đương số tiền đã nhận tương ứng với từng khoản tiền trên. Tổng cộng là 2.860.000.000 đồng. Đối với hợp đồng ngày 01/9/2020, bà H xin rút các yêu cầu liên quan đến số tiền 600.000.000 đồng và yêu cầu bồi thường đối với hợp đồng này.
2. Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H1 trình bày:
Ngày 18/07/2013, ông Trương Quang K lập “Hợp đồng ủy quyền” số 006492, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGDD tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh về việc ủy quyền cho vợ là bà Trần Thanh T1 đại diện cho ông K thực hiện việc chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp... liên quan đến quyền sử dụng đất (có tài sản trên đất) đối với thửa đất số 8918, tờ bản đồ số 2BA.8, diện tích 1.397,1m², tọa lạc khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 302281 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 21/01/2008. Thời hạn ủy quyền theo hợp đồng này là 20 năm.
Ngày 25 tháng 01 năm 2018, bà Nguyễn Thị Ngọc H1 và bà Trần Thanh T1 thỏa thuận và lập “Bản cam kết” về việc chuyển nhượng diện tích đất 150m² (chiều ngang 10 mét, chiều dài 15 mét), vị trí bên phải sát cột ăng ten giáp lối đi nội bộ thuộc một phần thửa đất số 8918 nêu trên, giá chuyển nhượng là 675.000.000 đồng. Ngay sau khi ký bản cam kết, bà H1 cùng bà T1 lập “Vi bằng” giao nhận số tiền trên tại Văn phòng T3 và bà T1 đã nhận toàn bộ số tiền 675.000.000 đồng. Tuy nhiên, kể từ lúc giao tiền đến nay nhiều lần bà H1 đến nhà bà Trần Thanh T1 để yêu cầu thực hiện chuyển nhượng, tách thửa cho bà H1 nhưng bà T1 trốn tránh, không thực hiện.
Quá trình tố tụng bà H1 yêu cầu: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T1 với bà H1 ngày 25/01/2018; buộc bà Trần Thanh T1 và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn có nghĩa vụ trả cho bà H1 khoản tiền đã nhận 675.000.000 đồng và bồi thường khoản tiền từ ngày 25/01/2018 đến ngày nộp đơn khởi kiện tạm tính là 29/10/2021 là 525.000.000 đồng. Tổng cộng là 1.200.000.000 đồng.
5
Tại phiên tòa, bà H1 thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện theo đó bà H1 yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T1 với bà H1 ngày 25/01/2018; buộc người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông K có nghĩa vụ trả cho bà H1 khoản tiền đã nhận 675.000.000 đồng và bồi thường khoản tiền chênh lệch theo giá đất hiện nay là 2.250.000.000 đồng, bà H1 có lỗi 40% còn ông K có lỗi 60%, tuy nhiên bà H1 chỉ yêu cầu trả số tiền là 405.000.000 đồng, tổng cộng là 1.080.000.000 đồng.
3. Bị đơn bà Trần Thanh T1 do ông Đoàn Văn Đ đại diện trình bày:
Việc bà T1 với bà H xác lập giao dịch ngày 29/01/2019 về việc chuyển nhượng diện tích 205,7m² tại thửa 8919, tờ bản đồ 2BA8, tọa lạc khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 302281 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 21/01/2008 và Hợp đồng ủy quyền ngày 18/7/2013 là vô hiệu vì thực tế hai bên không chuyển nhượng mà đó là khoản tiền vay nhưng bà T1 không có chứng cứ để chứng minh. Số tiền 900.000.000 đồng, bà T1 đã nhận nên đồng ý trả số tiền này cho bà H với tư cách cá nhân của bà T1.
Đối với giao dịch ngày 08/4/2019 bà T1 và bà H xác lập chuyển nhượng diện tích 100m2 tại thửa 8919, tờ bản đồ 2BA8, tọa lạc khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 302281 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 21/01/2008 bị vô hiệu, vì các bên chỉ lập giấy tờ chứ chưa giao nhận tiền, cũng như không chuyển nhượng đất nên không đồng ý.
Đối với giấy cam kết có giao nhận tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/9/2020 giữa bên chuyển nhượng bà Lê Thị Ngọc Đ1 với bên nhận chuyển nhượng là bà Ngô Thị Thanh H, có sự chứng kiến của ông K, bà T1 xác định giao dịch này là việc chuyển nhượng riêng giữa bà Đ1 với bà H, không liên quan gì đến bà T1, đồng thời ông K chỉ là người ký tên xác nhận làm chứng, bà T1 không đồng ý tuy nhiên nay bà H đã rút phần yêu cầu này nên không còn ý kiến gì.
Bà T1 thừa nhận có ký hợp đồng để chuyển nhượng với bà Nguyễn Thị Ngọc H1 và nhận số tiền 675.000.000 đồng, số tiền này đã được lập Vi bằng tại Văn phòng T3. Giao dịch chuyển nhượng này cũng vô hiệu và không làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường, đồng thời số tiền này bà T1 nhận đã sử dụng vào việc cá nhân, ông K không tham gia vào giao dịch nên không đồng ý.
4. Tại bản tự khai ngày 12/01/2022 và biên bản làm việc ngày 23/02/2023, bị đơn ông Trương Quang K trình bày:
Đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà H. Quyền sử dụng đất này là của ông K được nhận thừa kế từ cha mẹ để lại và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận. Quyền sử dụng đất này hiện nay ông và bà T1 đang quản lý sử dụng.
5. Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/01/2022, bị đơn ông Trương Quang K trình bày:
6
Quyền sử dụng đất diện tích 1.397,1m² thuộc thửa 8918, tờ bản đồ số 2BA.8, tọa lạc khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 302281 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 21/01/2008 cho ông K là tài sản của ông K được cha mẹ cho thừa kế, không phải là tài sản chung của vợ chồng. Việc bà T1 chuyển nhượng đất cho bà H1 thì ông không biết, do đó đối với yêu cầu khởi kiện của bà H1, ông không đồng ý.
6. Đại diện hợp pháp của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Trần Quang K1 là ông Đoàn Văn Đ trình bày: Không đồng ý với yêu cầu của các nguyên đơn.
7. Ông H2, bà N, bà T1 với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông K1 có yêu cầu giải quyết vắng mặt, tuy nhiên quá trình tố tụng có bản tự khai trình bày: Đối với yêu cầu của bà H1 thì thống nhất với ý kiến của người đại diện hợp pháp cho bà T1 với tư cách là bị đơn.
8. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, bà Trương Thị M trình bày:
Cha mẹ của bà M đã chết và có 02 người con là Trương Quang K và bà Trương Thị M. Quyền sử dụng đất diện tích 1.397,1m² thuộc thửa 8918, tờ bản đồ số 2BA.8, tọa lạc khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 302281 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 21/01/2008 ông K có nguồn gốc là của cha mẹ bà để thừa kế cho ông K. Ngày 12/3/2021, ông K lập di chúc có nội dung: Hủy bản Di chúc đầu tiên được lập ngày 18/7/2013, số công chứng 006493, quyển số 01TP/CC-SCC/DC tại Bệnh viện N1, Thành phố Hồ Chí Minh; truất quyền của bà Trần Thanh T1 (vợ ông K); để lại toàn bộ phần di sản thừa kế (thửa đất 8918, tờ bản đồ số 2BA.8, diện tích 1.397,1m² (151m² ODT), tọa lạc tại khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 302281, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H06374 do Ủy ban nhân dân huyện D (nay là thành phố D) cấp ngày 21/01/2008) cho bà M.
Quá trình tố tụng, bà M có yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án giải quyết: Công nhận Di chúc do ông Trương Quang K lập ngày 12/3/2021 là hợp pháp, công nhận quyền thừa kế của bà M đối với toàn bộ di sản do ông Trương Quang K chết để lại; bà M sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do ông Trương Quang K chết để lại theo quy định pháp luật. Ngày 02/01/2024, bà M có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập và xác định không có yêu cầu, ý kiến gì khác trong vụ án này.
9. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ngọc Đ1 trình bày:
Khoảng năm 2018-2019 (không rõ ngày cụ thể), bà Đ1 có nhận chuyển nhượng của bà T1 là người đại diện theo ủy quyền của ông K 01 phần đất có diện tích 150m² tọa lạc tại khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, giá trị 600.000.000 đồng, bà Đ1 đã giao tiền cho bà T1. Sau đó, do không có nhu cầu sử dụng nên bà Đ1 đã để cho em dâu là bà Ngô Thị Thanh H đứng tên. Lúc đó, giữa bà với bà H, ông K có lập giấy xác nhận việc bà bán đất cho bà H. Sau
7
này, hai bên chuyển nhượng thế nào thì bà Đ1 không biết. Quá trình tố tụng, bà Đ1 xác định đã bán đất cho bà H nên không còn quyền lợi gì liên quan đến phần đất 150m² này nữa. Trong vụ án này, bà Đ1 xác định không có yêu cầu gì.
Tại phiên tòa ngày 18/01/2024, bà Đ1 xác định thực tế giữa bà với bà H không chuyển nhượng với nhau mà do bà không có thời gian để đi khởi kiện nên đã làm giấy tờ để cho bà H đi khởi kiện đòi số tiền 600.000.000 đồng. Bà yêu cầu buộc bà T1 cùng với người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông K phải có nghĩa vụ trả cho bà số tiền 600.000.000 đồng.
10. Tại biên bản lấy lời khai ngày 01/6/2022, người làm chứng bà Trương Thị T2 trình bày:
Khoảng tháng 9 năm 2018, bà Đ1 có mua đất của vợ chồng ông K, diện tích là 150m² với giá là 600.000.000 đồng. Thửa đất bà Đ1 mua chính là thửa đất hiện nay bà T1 và các con đang sinh sống. Khi hai bên thỏa thuận việc mua bán thì bà T2 không biết nhưng khi làm giấy tờ thì bà Đ1 nhờ bà T2 đến chứng kiến việc lập biên bản. Thời điểm bà Đ1 giao tiền cho bà T1 cùng ngày với ngày làm giấy mua bán. Nội dung cụ thể trong tờ giấy viết những gì thì bà T2 cũng không biết.
11. Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/6/2023, người làm chứng bà Hồ Thị Ngọc D trình bày:
Bà D là cháu chồng của bà Trương Thị M. Khoảng đầu năm 2021, trước thời kỳ dịch Covid bùng phát bà D được bà M nhờ đến nhà của ông K để làm chứng lập di chúc. Tại nhà của ông K thì ông K có nhờ người đánh máy tờ di chúc, sau đó bà D đã đọc lại toàn bộ nội dung di chúc cho ông K nghe và ký xác nhận, lăn tay. Lúc đó, ông K tuy bị bệnh nhưng đầu óc vẫn minh mẫn, tỉnh táo.
12. Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/6/2023, người làm chứng bà Bùi Thị Y trình bày:
Bà Bùi Thị Y và ông Trương Quang K có mối quan hệ là bà con, mẹ của ông K là chị gái của mẹ bà. Khoảng đầu năm 2021 (không nhớ ngày cụ thể), ông K có nhờ bà Y tới nhà của ông K để làm chứng cho việc ông K lập di chúc. Theo đó, ông K đã nhờ người khác đánh máy tờ di chúc, sau đó bà Y đã đọc lại toàn bộ nội dung cho ông K nghe và ông K đã ký xác nhận, điểm chỉ trong di chúc.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 15/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
1. Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Trương Thị M về tranh chấp thừa kế tài sản.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Thanh H về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng ngày 01/9/2020 là vô hiệu và buộc trả số tiền 600.000.000 đồng, bồi thường số tiền 600.000.000 đồng.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Thanh H.
8
Tuyên bố các hợp đồng ngày 29/01/2019, ngày 08/4/2019, ngày 04/8/2020 được ký kết giữa bà Trần Thanh T1 với bà Ngô Thị Thanh H là vô hiệu.
Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trương Quang K bao gồm bà Trần Thanh T1, ông Trương Khánh H2 và bà Trương Thị Mỹ N có nghĩa vụ trả cho bà Ngô Thị Thanh H số tiền 2.130.000.000 (hai tỷ một trăm ba mươi triệu) đồng trong phạm vi di sản thừa kế của ông Trương Quang K để lại.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H1.
Tuyên bố hợp đồng ngày 25/01/2018 được ký kết giữa bà Trần Thanh T1 với bà Nguyễn Thị Ngọc H1 là vô hiệu.
Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trương Quang K bao gồm bà Trần Thanh T1, ông Trương Khánh H2 và bà Trương Thị Mỹ N có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc H1 1.080.000.000 (một tỷ không trăm tám mươi triệu) đồng trong phạm vi di sản thừa kế của ông Trương Quang K để lại.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Thanh H về việc buộc bị đơn trả số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng và bồi thường số tiền 530.000.000 (năm trăm ba mươi triệu) đồng, tổng cộng 730.000.000 (bảy trăm ba mươi triệu) đồng.
5. Chi phí tố tụng:
- - Bà Nguyễn Thị Ngọc H1 tự nguyện chịu 4.016.000 (bốn triệu không trăm mười sáu nghìn) đồng chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản, được khấu trừ hết vào số tiền đã ứng nộp tại Tòa án.
- - Bà Ngô Thị Thanh H tự nguyện chịu 9.995.000 (chín triệu chín trăm chín mươi lăm nghìn) đồng chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản, được khấu trừ hết vào số tiền đã ứng nộp tại Tòa án.
- - Bà Trần Thanh T1 chịu 2.040.000 (hai triệu không trăm bốn mươi triệu) đồng chi phí giám định, được khấu trừ vào hết số tiền đã ứng nộp tại Tòa án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, về chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 27/3/2024 nguyên đơn bà Ngô Thị Thanh H có đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
9
Ngày 29/3/2024, người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Đoàn Văn Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Ngô Thị Thanh H do ông Trịnh Minh T đại diện đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H. Bị đơn bà Trần Thanh T1 do ông Đoàn Văn Đ đại diện đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H1, Luật sư Nguyễn Duy B đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thanh T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Nhận thấy, nguyên đơn bà Ngô thị Thanh H3 và bị đơn bà Trần Thanh T1 kháng cáo nhưng không xuất trình được chứng cứ gì chứng minh, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của vị Luật sư và của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị M đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt; bà Lê Thị Ngọc Đ1 và tất cả những người làm chứng đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người có tên trên theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Ngày 02/4/2024, bà Trương Thị M có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập, bà Ngô Thị Thanh H rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với hợp đồng ngày 01/9/2020. Việc rút đơn yêu cầu độc lập của bà M và việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H là hoàn toàn tự nguyện. Căn cứ vào Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Trương Thị M và đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà H là phù hợp. Phần quyết định này không bị kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.
[1.3] Quá trình chuẩn bị xét xử, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ngọc Đ1 không có yêu cầu gì. Tại phiên tòa ngày 18/01/2024, bà Đ1 yêu cầu bà T1 cùng người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông K trả lại cho bà số tiền 600.000.000 đồng. Xét thấy, yêu cầu của bà Đ1 là yêu cầu độc lập được đưa ra sau khi Tòa án đã tổ chức phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ nên không được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét là phù hợp.
10
[2] Về nội dung:
[2.1] Ngày 18/7/2013, ông Trương Quang K ủy quyền cho bà Trần Thanh T1 để thực hiện các thủ tục chuyển nhượng, tặng cho... liên quan đến quyền sử dụng đất có diện tích 1.397,1m² thuộc thửa 8918, tờ bản đồ số 2BA.8, tọa lạc khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 302281 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Dĩ An cấp ngày 21/01/2008 cho ông K, thời hạn ủy quyền là 20 năm. Hợp đồng ủy quyền được Văn phòng C1, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGDD. Quá trình tố tụng, không có ai có ý kiến cũng như xuất trình văn bản về việc thỏa thuận hủy hợp đồng ủy quyền trên nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định đến thời điểm ông K chết thì hợp đồng ủy quyền trên mới chấm dứt theo quy định tại khoản 3 Điều 422 của Bộ luật Dân sự là có căn cứ.
[2.2] Xét yêu cầu của bà Ngô Thị Thanh H:
[2.2.1] Các đương sự đều thừa nhận vào ngày 29/01/2019, tại Văn phòng T3, bà Ngô Thị Thanh H và bà Trần Thanh T1 có lập Vi bằng để giao nhận số tiền 900.000.000 đồng, mục đích là để bà T1 chuyển nhượng cho bà H quyền sử dụng đất diện tích 205,7m² thuộc 01 phần thửa 8918, tờ bản đồ số 2BA.8, tọa lạc khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 302281 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Dĩ An cấp ngày 21/01/2008 cho ông Trương Quang K. Hai bên có lập giấy cam kết về việc chuyển nhượng một phần diện tích đất, nhưng sau khi ký giấy cam kết hai bên vẫn chưa thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sự thừa nhận của các đương sự là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2.2] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (bản cam kết về việc chuyển nhượng một phần diện tích đất) ký ngày 29/01/2019 giữa bà T1 (được ông K ủy quyền tại Văn bản ngày 18/7/2013) với bà H: Về hình thức hợp đồng được lập thành văn bản nhưng nội dung không đầy đủ, không rõ ràng về đối tượng của hợp đồng và không được công chứng, chứng thực nên bị vô hiệu về hình thức theo quy định tại Điều 129 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Về nội dung của hợp đồng thì diện tích các bên thỏa thuận chuyển nhượng là 205,7m² thuộc 01 phần thửa 8918, tờ bản đồ số 2BA.8, tọa lạc tại khu phố C, căn cứ vào Quyết định số 25/2017/QĐ-UBND ngày 27 tháng 9 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh B quy định: “Thửa đất mới hình thành và thửa đất còn lại sau khi tách phải tiếp giáp đường do Nhà nước quản lý, đảm bảo có bề rộng và chiều sâu tối thiểu 4m đối với thửa đất khi tiếp giáp với đường có lộ giới <20m; đảm bảo có bề rộng và chiều sâu tối thiểu 05m đối với thửa đất khi tiếp giáp với đường có lộ giới ≥20m. Trừ trường hợp tách thửa đất nông nghiệp theo quy hoạch sử dụng đất vẫn là đất nông nghiệp thì không yêu cầu tiếp giáp đường do Nhà nước quản lý”, đối chiếu quy định trên và căn cứ vào hiện trạng thực tế, vị trí đất chuyển nhượng thì không đảm bảo về điều kiện tách thửa. Nguyên đơn cho rằng các bên đã bàn giao đất nhưng không có chứng cứ chứng minh, bị đơn bà T1 không thừa nhận. Như vậy, hợp đồng này vô hiệu cả về nội dung và hình thức. Xét về lỗi làm cho hợp đồng bị vô hiệu thấy rằng, cả bà H và bị đơn đều biết phần đất
11
chuyển nhượng không tiếp giáp với đường đi theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh B nên không thực hiện chuyển nhượng được, hợp đồng bị vô hiệu theo quy định tại Điều 122 và Điều 123 của Bộ luật Dân sự, lỗi làm hợp đồng bị vô hiệu là nguyên đơn phải chịu 50% thiệt hại, bị đơn phải chịu 50% thiệt hại. Do hợp đồng vô hiệu nên các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Khi tuyên giao dịch dân sự vô hiệu thì cần thiết phải giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015: “Các bên phải giao trả lại cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi gây ra thiệt hại phải bồi thường”, buộc bị đơn có nghĩa vụ trả cho bà H số tiền 900.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại tương ứng với lỗi làm hợp đồng vô hiệu. Thiệt hại trong trường hợp này được xác định theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là giá trị đất chênh lệch giữa giá chuyển nhượng và giá thực tế tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo kết quả thẩm định giá, cụ thể:
- Giá đất theo hợp đồng chuyển nhượng là: (4.375.303 đồng/m² x 205,7m² = 900.000.000 đồng).
- Giá đất tại thời điểm xét xử theo kết quả định giá được xác định: 205,7m² x 15.000.000 đồng = 3.085.500.000 đồng.
- Giá trị chênh lệch: 3.085.500.000 đồng – 900.000.000 đồng = 2.185.500.000 đồng.
Nguyên đơn phải chịu thiệt hại 50% tương ứng với số tiền 1.092.750.000 đồng. Bị đơn phải chịu thiệt hại 50% tương ứng với số tiền 1.092.750.000 đồng, bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 1.092.750.000 đồng. Tuy nhiên, nguyên đơn chỉ yêu cầu bồi thường 900.000.000 đồng là có lợi hơn cho bị đơn nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.
[2.2.3] Xét hợp đồng đặt cọc ngày 08/4/2019 có nội dung: Bà Trần Thanh T1 chuyển nhượng cho bà H diện tích 100m² thuộc 01 phần thửa 8918, tờ bản đồ số 2BA.8, giá 450.000.000 đồng. Phương thức thanh toán, ngay sau khi ký hợp đồng, bà H thanh toán 200.000.000 đồng; đợt 02 là 200.000.000 đồng sau 02-03 tháng của đợt 01; đợt 03 là 50.000.000 đồng sau khi công chứng sang tên. Bà H cho rằng đã thanh toán cho bà T1 số tiền 400.000.000 đồng, cụ thể vào ngày 08/4/2019 giao 200.000.000 đồng nhưng không có biên nhận tiền; ngày 31/5/2019, tại nhà của bà T1 thì bà H giao tiếp 200.000.000 đồng, không có biên nhận nhưng có hình ảnh bà H chụp lại bà T1 và con gái nhận 200.000.000 đồng. Căn cứ vào hợp đồng đặt cọc ngày 08/4/2019, tại điểm 2.3 khoản 2 Điều 2 của hợp đồng hai bên thỏa thuận “Việc trả và nhận số tiền nói trên được ghi nhận bằng giấy biên nhận hoặc chứng từ nộp tiền vào ngân hàng”. Nguyên đơn cho rằng đã giao cho bà T1 số tiền 400.000.000 đồng làm 02 lần nhưng không có chứng cứ để chứng minh, căn cứ vào hình ảnh do nguyên đơn cung cấp thể hiện ngày 31/5/2021 bà T1 đứng bên cạnh và con gái ký tên phía trước có để cọc tiền 200.000.000 đồng là khoản tiền mà nguyên đơn giao cho bà T1. Do đó, chỉ có căn cứ chấp nhận việc nguyên đơn bà H đã giao cho bà T1 số tiền 200.000.000 đồng. Các đương sự thừa nhận tại thời điểm này, khi ký hợp đồng đặt cọc thì bà
12
T1 không đưa ra bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì đất đang thế chấp tại ngân hàng, diện tích đất vi phạm điều kiện tách thửa theo quy định tại Quyết định số 25/2017/QĐ-UBND ngày 27 tháng 9 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh B, nguyên đơn biết việc đó nhưng vẫn ký hợp đồng đặt cọc nên hợp đồng đặt cọc bị vô hiệu theo quy định tại Điều 122 và Điều 123 của Bộ luật Dân sự, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và không phát sinh về nghĩa vụ phạt cọc theo quy định tại Điều 131 của Bộ luật Dân sự.
[2.2.4] Xét hợp đồng đặt cọc ngày 04/8/2020 được ký kết giữa bà T1 với bà H thể hiện hai bên thỏa thuận chuyển nhượng 1.397,1m², với giá 7.000.000 đồng/m² (theo diện tích thực tế đo vẽ), cùng ngày bà H đã giao cho bà T1 100.000.000 đồng. Ngày 31/12/2020, bà H giao tiếp 30.000.000 đồng và lập biên bản xác nhận tại mặt sau của hợp đồng đặt cọc ngày 04/8/2020, chữ viết do bà H viết nhưng có bà T1 ký xác nhận bên bán. Việc giao nhận tiền này, ông K thừa nhận nhưng bà T1 không thừa nhận. Xét thấy, phần ghi xác nhận số tiền 130.000.000 đồng ngày 31/12/2020 mặc dù nguyên đơn viết có sai sót về chữ viết, con số nhưng đã được bị đơn bà Trần Thanh T1 ký, ghi rõ họ tên tại phần bên bán và cũng được ông K thừa nhận. Do đó, có căn cứ xác định bà H đã giao cho bà T1 số tiền 130.000.000 đồng. Xét việc hai bên thỏa thuận đặt cọc để chuyển nhượng diện tích 1.397,1m² (bao gồm cả phần diện tích chuyển nhượng của hợp đồng ngày 29/01/2019, 08/4/2019) thì tại thời điểm này, bà T1 đã ký giấy cam kết chuyển nhượng cho bà H1 nhưng vẫn ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho bà H là không đúng với thực tế, đồng thời tại phiên tòa bà H và bà Đ1 đều thừa nhận tại thời điểm này bà H biết việc trước đó (năm 2018) bà T1 đã ký thỏa thuận chuyển nhượng cho bà Đ1 150m² nhưng vẫn tiếp tục ký hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho bà H là không phù hợp. Do đó, ngay từ khi ký hợp đồng đặt cọc ngày 04/8/2020 thì hợp đồng đã không phát sinh giá trị pháp lý. Nguyên đơn yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu là có căn cứ, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 130.000.000 đồng. Do hợp đồng bị vô hiệu theo quy định tại Điều 122 và Điều 123 của Bộ luật Dân sự nên các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và không phát sinh về nghĩa vụ phạt cọc theo quy định tại Điều 131 của Bộ luật Dân sự.
[2.2.5] Xét giấy cam kết có giao nhận tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/9/2020 giữa bên chuyển nhượng bà Lê Thị Ngọc Đ1 với bên nhận chuyển nhượng bà Ngô Thị Thanh H, trong đó thể hiện bà Đ1 chuyển nhượng cho bà H diện tích 150m² thuộc 01 phần thửa 8918, tờ bản đồ số 2BA.8, với giá 600.000.000 đồng, có ông K là người ký xác nhận làm chứng. Đối với việc chuyển nhượng này giữa bà Đ1 với bà H nếu có tranh chấp sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án khác.
[3] Xét “Bản cam kết” được ký kết ngày 25 tháng 01 năm 2018 giữa bà Trần Thanh T1 với bà Nguyễn Thị Ngọc H1 để chuyển nhượng diện tích 150m² (chiều ngang 10 mét, chiều dài 15 mét), vị trí bên phải sát cột ăng ten giáp lối đi nội bộ thuộc một phần thửa đất số 8918 nêu trên, giá 675.000.000 đồng. Ngay sau khi ký bản cam kết trên, bà H1 cùng bà T1 lập “Vi bằng” giao nhận số tiền trên tại Văn phòng T3 và bà T1 đã nhận toàn bộ số tiền 675.000.000 đồng. Các
13
đương sự bà H1, bà T1 đều thừa nhận nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét bản cam kết thể hiện: Về hình thức Hợp đồng được lập thành văn bản nhưng nội dung không đầy đủ, rõ ràng về đối tượng của hợp đồng và không được công chứng, chứng thực nên bị vô hiệu về hình thức theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Về nội dung của hợp đồng thì diện tích các bên thỏa thuận chuyển nhượng là 150m² thuộc 01 phần thửa 8918, tờ bản đồ số 2BA.8, tọa lạc tại khu phố C, căn cứ vào Quyết định số 25/2017/QĐ-UBND ngày 27 tháng 9 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh B thì diện tích đất chuyển nhượng không giáp đường đi, không đủ diện tích tối thiểu nên không đảm bảo về điều kiện tách thửa. Như vậy, hợp đồng này vô hiệu cả về nội dung và hình thức theo quy định tại Điều 122 và Điều 123 của Bộ luật Dân sự. Xét về lỗi làm cho hợp đồng bị vô hiệu thấy rằng, cả bà H1 và bị đơn đều biết phần đất chuyển nhượng không tiếp giáp với đường đi, không đủ diện tích tối thiểu được phép tách thửa theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh B nên không thực hiện chuyển nhượng được, lỗi làm hợp đồng bị vô hiệu là nguyên đơn phải chịu 50% thiệt hại, bị đơn phải chịu 50% thiệt hại. Do hợp đồng vô hiệu nên các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Khi tuyên hợp đồng hoặc giao dịch dân sự vô hiệu thì cần thiết phải giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của Điều 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và bồi thường thiệt hại tương ứng với lỗi làm hợp đồng vô hiệu theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là giá trị đất chênh lệch giữa giá chuyển nhượng và giá thực tế tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo kết quả thẩm định giá, cụ thể:
- Giá đất theo hợp đồng chuyển nhượng là: 4.500.000 đồng/1m² x 150m² = 675.000.000 đồng.
- Giá đất tại thời điểm xét xử theo kết quả định giá được xác định: 150m² x 15.000.000 đồng = 2.250.000.000đồng.
- Giá trị chênh lệch: 2.250.000.000 đồng – 675.000.000 đồng = 1.575.000.000 đồng.
Nguyên đơn phải chịu thiệt hại 50% tương ứng với số tiền 787.500.000 đồng. Bị đơn phải chịu thiệt hại 50% tương ứng với số tiền 787.500.000 đồng để trả cho nguyên đơn. Tuy nhiên, nguyên đơn chỉ yêu cầu bồi thường 405.000.000 đồng là có lợi cho bị đơn nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.
[4] Quá trình tố tụng, ông K thừa nhận toàn bộ các hợp đồng bà T1 đã ký kết với bà H, nhưng không thừa nhận hợp đồng ký với bà H1. Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lời thừa nhận của ông K, đại diện hợp pháp của bị đơn đều xác định quyền sử dụng đất thuộc thửa 8918, tờ bản đồ số 2BA.8, tọa lạc khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương đã được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Dĩ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 302281 ngày 21/01/2008 cho ông Trương Quang K có nguồn gốc là do ông K được nhận thừa kế từ cha mẹ, đồng thời đại diện hợp pháp của bà T1 xác nhận toàn bộ số tiền nhận từ bà H1, bà H thì bà T1 không sử dụng vào
14
mục đích sinh hoạt gia đình, mà sử dụng vào việc riêng cá nhân của bà T1. Căn cứ vào Điều 139 của Bộ luật Dân sự “Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện”, ông K đã ủy quyền cho bà T1 thực hiện các quyền của chủ sử dụng đất trong phạm vi ủy quyền, do đó ông K phải chịu trách nhiệm với các nguyên đơn trong phạm vi ủy quyền mà bà T1 đã nhân danh ông K để xác lập. Quá trình tố tụng, ông K chết vào ngày 04/4/2022, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông K là vợ và các con thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao gồm bà T1, ông H2 và bà N. Do đó, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông K phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản tiền trên cho các nguyên đơn trong phạm vi di sản thừa kế của ông K chết để lại theo quy định tại Điều 615 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H1, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà H là phù hợp nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Ngô Thị Thanh H và kháng cáo của bị đơn bà Trần Thanh T1.
[5] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là phù hợp.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- 1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Ngô Thị Thanh H.
- 2. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thanh T1.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 15/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- 3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- - Nguyên đơn bà Ngô Thị Thanh H phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002708 ngày 29/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- - Bị đơn bà Trần Thanh T1 phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí do ông Đoàn Văn Đ đại diện nộp thay theo Biên lai thu tiền số 0002714 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
15
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thanh Tuyền |
Bản án số 379/2024/DS-PT ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng đặt cọc và tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 379/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng đặt cọc và tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
