|
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 379/2024/HS-ST
Ngày: 16-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Phước Linh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Kim Hoa
2. Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 376/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 446/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Thái Duy K; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 07/11/2005; Nơi cư trú: Xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Thái Duy T, sinh năm 1976; Họ và tên mẹ: Đỗ Thị Thanh H, sinh năm 1978; Vợ: Chưa có; Con: Có 01 con sinh năm 2022; Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố V, tỉnh Nghệ An; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 03/9/2024 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên K đã liên lạc với một người đàn ông (K không rõ lai lịch địa chỉ) để hỏi mua 03 (Ba) viên ma túy thuốc lắc và 01 (Một) gam ma túy Ketamine. Qua trao đổi người này đồng ý bán với giá 2.000.000 đồng và hẹn sẽ gọi lại cho K. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, người này gọi điện thoại cho K và nói ma túy để ở dưới cục đá nơi gốc cây trước cổng trường trung học phổ thông N ở đường M, thành phố V, sau khi lấy được ma túy thì để tiền lại chỗ đó. K điều khiển xe máy biển kiểm soát 37B3-091.86 đi đến địa điểm trên, nhìn thấy một khẩu trang y tế màu trắng được cuộn tròn để dưới cục đá nơi gốc cây. K nhặt lên mở ra xem thấy bên trong có 02 gói ni lông màu trắng, trong đó 01 gói chứa 03 (ba) viên nén hình tam giác màu xám và 01(một) gói trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Sau khi lấy được ma túy, K cất giấu vào trong túi quần đùi bên trái phía trước và để lại số tiền 2.000.000 đồng dưới cục đá nơi gốc cây rồi đi về. Khi K đi đến cây xăng số A đường N, thuộc phường Q, thành phố V, dừng lại đổ xăng thì bị tổ tuần tra của Phòng C công an tỉnh N kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện thu giữ trong túi quần đùi bên trái phía trước K đang mặc một khẩu trang y tế màu trắng được cuộn tròn, mở ra bên trong có 02 (hai) gói ni lông màu trắng, trong đó 01 gói chứa 03 (ba) viên nén hình tam giác màu xám và 01(một) gói trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Thái Duy K trình bày hai gói nhỏ trên là ma túy dạng Thuốc lắc và ma túy dạng “Ke”, K vừa mua để bản thân sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an bắt giữ. Tổ công tác đưa K cùng tang vật về trụ sở Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy công an thành phố V, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng.
Tại bản kết luận giám định số 862/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 10/9/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh N kết luận:
- Mẫu viên nén màu hình tam giác màu xám (ký hiệu M1) thu giữ của Thái Duy K gửi đến giám định là ma túy; loại MDMA, có tổng khối lượng là 1,174 g (Một phẩy một trăm bảy mươi tư gam)
- Mẫu chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) thu giữ của Thái Duy K gửi đến giám định là ma túy; loại Ketamine, có khối lượng 1,810 g (Một phẩy tám trăm mười gam).
Căn cứ khoản 2, điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng các chất ma túy, thì tổng khối lượng các chất ma túy thu giữ của Thái Duy K được tính như sau:
- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng MDMA so với mức tối thiểu đối với MDMA quy định tại điểm g, khoản 2, điều 249 là 23,48% (1,174 gam so với 05 gam)
- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng Ketamine (chất ma túy khác ở thể rắn) so với mức tối thiểu đối với Ketamine quy định tại điểm i, khoản 2, điều 249 là 9,05% (1,810 gam so với 20 gam);
Như vậy, tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của cả hai chất ma túy (MDMA) và (Ketamine) thu giữ của Thái Duy K là 23,48% + 9,05% = 32,53% (Thuộc trường hợp dưới 100%).
Quá trình điều tra, Thái Duy K hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng vụ án: 03 (ba) viên nén hình tam giác màu xám trên bề mặt mỗi viên in hình không xác định có tổng khối lượng là 1,174 g (Một phẩy một trăm bảy mươi tư gam). Hội đồng đã lấy ngẫu nhiên 01(một) viên nén hình tam giác màu xám có khối lượng 0,379 gam gửi giám định (ký hiệu M1). Khối lượng các viên nén hình tam giác màu xám còn lại sau khi lấy mẫu giám định là 0,795 gam. 01 (một) bao ni lông màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng có khối lượng cả bì là 2,283 gam. Sau khi loại bỏ bao bì khối lượng còn lại là 1,810 g (Một phẩy tám trăm mười gam). Hội đồng đã trộn đều và lấy 0,500 gam gửi giám định (ký hiệu M2). Khối lượng chất tinh thể màu trắng còn lại là 1,310 gam (Một phẩy ba trăm mười gam). 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11, màu xanh dương, có số imei 1:35657910327065, số imei 2:35657910132706, bên trong có gắn thẻ sim số 0522231498, đã qua sử dụng; hiện các vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Bản Cáo trạng số 388/CT-VKS-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Thái Duy K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Thái Duy K1 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Thái Duy K từ 18 đến 21 tháng tù.
Về vật chứng: ma túy (Ketamine, MDMA) thu giữ của Thái Duy K đã được niêm phong đúng quy định, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy; tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động.
Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát thành phố V đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Thái Duy K đều khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 23 giờ 10 phút ngày 03/9/2024, tại khu vực trước cây xăng ở số A đường N, thuộc phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Tổ công tác Phòng cảnh sát cơ động công an tỉnh N phát hiện, bắt quả tang Thái Duy K tàng trữ trái phép 1,174 g (Một phẩy một trăm bảy mươi tư gam) ma túy loại MDMA và 1,810 g (Một phẩy tám trăm mười gam)ma túy loại Ketamine, mục đích để sử dụng. Căn cứ khoản 2, điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ, thì tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của cả hai chất ma túy (MDMA) và (Ketamine) thu giữ của Thái Duy K là 32,53% (Thuộc trường hợp dưới 100%). Hành vi cất giữ ma túy với mục đích để sử dụng của Thái Duy K đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Tội phạm và hình phạt được quy định tại được qui định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[2.2]. Đánh giá tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ sức khỏe và nhận thức, nhận thức được tác hại do ma túy mang lại cho con người và xã hội nhưng bị cáo không chịu rèn luyện tu dưỡng mà sa vào con phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Thái Duy K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo HĐXX thấy: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Gia đình bị cáo ông, bà nội là người công cách mạnh được tặng thương hân huy chương; Bị cáo Thái Duy K được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Như vậy, bị cáo K là người nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Nên HĐXX xét thấy nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt, chỉ xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, và cũng để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, từ đó cải tạo tốt, sớm qua lại với cộng đồng xã hội, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
[2.3] Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng...”, do đó bị cáo Thái Duy K có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, thu nhập và công việc không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[2.4]. Trong vụ án này, Trong vụ án này, theo lời khai của Thái Duy K về người đàn ông bán ma túy K, do không rõ lai lịch địa chỉ cụ thể, nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
[2.5]. Về vật chứng trong vụ án: Ma túy (Ketamine, MDMA) thu giữ của bị cáo Thái Duy K là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11, màu xanh dương, có số imei 1: 35657910327065, số imei 2:35657910132706, bên trong có gắn thẻ sim số 0522231498, đã qua sử dụng thu giữ của Thái Duy K là tài sản của bị cáo, bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Các vật chứng trên hiện được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh.
[2.6]. Bị cáo Thái Duy K phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Thái Duy K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự, xử phạt Thái Duy K 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 04/9/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín thu giữ vật chứng (là ma túy Ketamine, MDMA) của Thái Duy K Tịch; thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại iphone 11thu giữ của bị cáo Thái Duy K; Vật chứng có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho vật chứng số NK 2025/55 ngày 13/12/2024.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Thái Duy K phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HỒ PHƯỚC LINH |
Bản án số 379/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 379/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thái Duy Kiên
