Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 379/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 18 - 8 - 2023

V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Tám
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi

Thư ký phiên toà: Ông Trần Thiện Nhân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên sơ cấp

Trong ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 170/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 241/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023 và Quyết định Hoãn phiên toà số 191/2023/QĐST -DS, ngày 14/8/2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị Bích N, sinh năm 2001.

    Nơi cư trú: số C, tổ C, ấp N, xã A,, huyện T, tỉnh An Giang.

  2. Bị đơn: Anh Lê Phú V (Lê Phú V1), sinh năm 1995.

    Nơi cư trú: số A, ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

(Chị N xin vắng mặt, anh V vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình hòa giải, nguyên đơn chị Dương Thị Bích N trình bày:

Chị và anh Lê Phú V do mai mối được hai bên gia đình đồng ý, có tổ chức lễ cưới năm 2019, đến năm 2020 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 88/2020 ngày 07 tháng 9 năm 2020.

Sau khi cưới vợ chồng sống chung với gia đình anh V, thời gian đầu chung sống không hạnh phúc do công việc ở nông thôn thu nhập không ổn định nên chị rủ anh V lên tỉnh Bình Dương làm công nhân vì có người thân đang làm trên đó, anh V không đồng ý, đến tháng 7/2022 chị đưa con cùng đi lên huyện T, tỉnh Bình Dương xin làm công nhân, sau đó anh V cũng lên xin vào làm chung Cty, vợ chồng chung sống, sau đó anh V thường xuyên ăn nhậu, đi sớm về khuya, chị có khuyên can nhiều lần nhưng không được, anh V lạnh nhạt không quan tâm vợ con, còn đòi kiểm tra điện thoại của chị nhiều lần rồi sinh tánh ghen tuông vô cớ phát sinh nhiều mâu thuẫn, đến tháng 9/2022 gia đình hai bên kêu gởi con ở lại quê để tiện chăm sóc qua lại, vợ chồng tiếp tục lên tỉnh Bình Dương làm công nhân, đến tháng 02/2023 phát sinh mâu thuẩn giữa người thân của chị với anh V, chị bỏ về quê xin vào làm trong Cty du lịch Túp Dụp để tiện chăm sóc con, còn anh V ở lại làm công nhân chính thức ly thân cho đến nay, khi ly thân đến nay anh V không liên lạc để hàn gắn, tuy gia đình hai bên cũng có hàn gắn nhưng cũng không được, nay tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Lê Phú V

Về nuôi con chung: có 01 con chung tên Lê Ngọc Anh T, sinh ngày 21/7/2020, hiện đang sống cùng với chị. Nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: không có.

* Anh Lê Phú V vắng mặt từ khi Toà án thụ lý vụ án nên không có ý kiến trình bày.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật, tuy nhiên anh V vắng mặt suốt quá trình tố tụng là chấp hành pháp luật chưa nghiêm, anh cũng được tống đạt triệu tập để nghe xét xử đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt, chị N có đơn xin vắng mặt và có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, do đó đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xét xử vắng mặt anh V và chị N theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Hôn nhân của anh, chị do mai mối được cha mẹ chấp thuận, có tổ chức lễ cưới năm 2019, đến năm 2020 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang, thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn do hai người bất đồng ý kiến trong việc đi làm công nhân, anh V thường xuyên uống rượu, hay ghen tuông, nhưng lại thiếu trách nhiệm trong việc chăm sóc gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi nhau đến năm 2023 mâu thuẫn trầm trọng, chị N về quê kiếm việc làm để nuôi con vợ chồng ly thân, sau khi ly thân hai bên không liên lạc tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị N yêu cầu ly hôn với anh V là có căn cứ, phù hợp với lời trình bày của anh Mai Hòa P (phó Ban tự quản ấp B), đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

- Về con chung: có 01 con chung tên Lê Ngọc Anh T, sinh ngày 21/7/2020, hiện đang sống cùng với chị N. Nay ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng cho con. Xét thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, chị N nuôi dưỡng chăm sóc cháu T cũng đảm bảo, do đó đề nghị HĐXX tiếp tục giao cháu T cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, anh V không phải cấp dưỡng cho con cũng phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, nên đề nghị HĐXX chấp nhận.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết

Đồng thời buộc các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về người tham gia tố tụng: nguyên đơn chị Dương Thị Bích N yêu cầu được vắng mặt khi xét xử, chị có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình; bị đơn anh Lê Phú V đã được tống đạt các văn bản tố tụng cũng như triệu tập lần thứ 2 để nghe xét xử, nhưng anh vẫn vắng mặt, việc vắng mặt của anh, chị không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, nên HĐXX xét xử vắng mặt anh, chị theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các bên.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: hiện nay anh Vĩnh cư t tại: ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, nên chị N khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về quan hệ tranh chấp: chị N xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con nên quan hệ tranh chấp là “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khỏan 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, hôn nhân của anh, chị do mai mối được cha mẹ đồng ý, tổ chức lễ cưới năm 2019, đến năm 2020 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang, quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do hai người bất đồng ý kiến trong việc đi làm công nhân, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh V thường xuyên uống rượu hay ghen tuông lại thiếu trách nhiệm chăm sóc gia đình đến tháng 02/2023 mâu thuẫn trầm trọng, chị N bỏ về quê kiếm việc làm để dễ chăm sóc con vợ chồng chính thức ly thân, sau khi ly thân hai bên không liên lạc tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, tuy gia đình hai bên có hàn gắn nhưng cũng không được, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị N yêu cầu ly hôn với anh V là có căn cứ, phù hợp với lời trình bày của anh Mai Hòa P (phó Ban tự quản ấp B), để anh chị có cuộc sống riêng sau này, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

- Về con chung: có 01 con tên Lê Ngọc Anh T, sinh ngày 21/7/2020, hiện đang sống cùng với chị N. Nay ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng cho con. Xét thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, hiện con chung đang do chị N chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định, cháu cũng được chăm sóc chu đáo, nên HĐXX giao cháu T cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, anh V không phải cấp dưỡng cho con.

- Về quan hệ tài sản chung: Các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Ghi nhận chị N khai không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh V, chị N phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án khác.

[3] Về án phí: Chị Dương Thị Bích N là người xin ly hôn, nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 56 và Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

- Căn cứ Điều 26, khoản 5 Điều 27, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Dương Thị Bích N đối với anh Lê Phú V.

- Về hôn nhân: chị Dương Thị Bích N được ly hôn với anh Lê Phú V.

- Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Lê Ngọc Anh T, sinh ngày 21/7/2020, cho chị Dương Thị Bích N nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, anh Lê Phú V không phải cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: không có.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Dương Thị Bích N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006178 ngày 25/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, anh Lê Phú V không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sư, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Võ Văn T1 – Nguyễn Thị Kim C

Bùi Văn C1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 379/2023/HNGĐ-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 379/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger