Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 379/2024/HS-ST

Ngày 10 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phong;
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Bình;
Ông Nguyễn Văn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quang Anh, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Nhung, Kiểm sát viên.

Ngày 10/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 290/2024/TLHS-ST ngày 12/6/2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 357/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Công H, sinh năm 1990; Nơi ĐKTT: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: Số nhà G, ngõ C, phố N, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không, H1 phổ thông: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Công H2 và con bà Trần Thị H3; Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo thứ ba; Vợ: Lưu Thị M, sinh năm 1988; Bị cáo có 03 con; con lớn sinh năm 2009 và con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/3/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H (có mặt).

Bị hại: Bà W, sinh năm 1977 tại Trung Quốc; Hộ chiếu: EC2686051; Quốc tịch: Trung Quốc; Nơi cư trú: C, V, Trung Quốc (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lê Công T, sinh năm 1995; Nơi đăng ký hộ khẩu: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở: số G ngõ C N, phường V, quận Đ, Thành phố Hà Nội (có mặt).
  2. Anh Đinh Văn H4, sinh năm 1995; Nơi đăng ký hộ khẩu: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Hà Nam; Nơi ở: Số A H, phường Ô, quận Đ, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2004, bị cáo Lê Công H thuê trọ tại số G, ngõ C, phố N, phường V, quận Đ, Thành phố Hà Nội để làm nghề lái xe ôm và dán màn hình điện thoại. Đầu giờ chiều ngày 18/3/2024, bị cáo điều khiển xe máy hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 36B4-084.54 đi từ ga H vào khu vực phố cổ quận H để tìm khách có nhu cầu dán màn hình điện thoại. Khoảng 14h45 phút cùng ngày, bị cáo điều khiển xe máy đi trên phố L, phường H để ra phố H, quận H, Thành phố Hà Nội. Khi đi qua đoạn đường trước nhà T ở số B, phố L, bị cáo nhìn thấy bà W và bà Li Jian W1 đang đứng trên vỉa hè sát mặt đường trước cửa nhà thuốc. Bị cáo quan sát thấy bà W đang sử dụng 01 điện thoại Iphone bằng 02 tay và hướng mặt nhìn về phía lòng đường, không chú ý xung quanh. Thấy vậy, bị cáo đã điều khiển xe máy vòng lại rồi đi sát vào vỉa hè bên tay trái, cùng phía nhà thuốc P. Khi đi đến gần vị trí của bà W đang đứng, bị cáo giảm ga áp sát, dùng tay trái giật 01 chiếc điện thoại của bà W2 rồi tăng ga bỏ chạy. Bà W và bà Li Jian W1 đuổi theo nhưng không kịp nên đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H trình báo.

Sau khi chiếm đoạt được chiếc điện thoại của bà W, bị cáo cầm chiếc điện thoại đi đến quán nước tại khu vực trước cửa số nhà A, phố N, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội dừng lại tắt nguồn điện thoại và tháo sim điện thoại vứt xuống đất, rồi đi về nhà trọ. Đến khoảng 19h00 phút cùng ngày, bị cáo mang chiếc điện thoại trên đến cửa hàng điện thoại của anh Đinh Văn H4 để bán. Khi bán bị cáo nói với anh H4 là chiếc điện thoại của bị cáo, nhưng quên mật khẩu nên muốn bán. Sau khi kiểm tra máy, anh H4 định giá chiếc điện thoại trị giá 3.000.000 đồng nhưng bị cáo không đồng ý bán nên đi về. Một lúc sau, bị cáo quay lại cửa hàng và bán chiếc điện thoại trên cho anh H4 với giá 3.000.000 đồng. Anh H4 đưa cho bị cáo 2.100.000 đồng tiền mặt và sử dụng tài khoản số 29016866666 mở Ngân hàng T1 chuyển 900.000 đồng đến tài khoản số 5012565074 của bị cáo mở tại Ngân hàng B. Ngày 20/3/2024, bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H bắt giữ.

Vật chứng thu giữ: Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã thu giữ các đồ vật, tài sản liên quan gồm:

- Thu giữ do bị cáo Lê Công H giao nộp: Số tiền 2.100.000 đồng cùng 01 chiếc Balo vải màu đen, kích thước (46x27x17)cm không có nhãn hiệu (cũ); 01 chiếc áo dài tay màu đen có hoa văn màu vàng (cũ); 01 chiếc xe máy kiểu dáng nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 36B4-08454, số máy HC12E5480608, số khung RLHHC1210DY480523 (cũ); 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xanh lá cây, có chữ “Hiệu thuốc tay Ngọc P1” (cũ).

- Thu giữ do anh Đinh Văn H4 giao nộp: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 có màu xanh dương, không lắp sim và 01 ảnh chụp màn hình điện thoại chuyển khoản số tiền 900.000 đồng cho Lê Công H.

- Thu giữ do chị Lê Thị Thu H5 (sinh năm 1981; trú tại số nhà B, ngách E phố T, phường B, quận T, Thành phố Hà Nội) giao nộp: 01 chiếc USB màu đen lưu lại 02 đoạn video thu được tại trước cửa số nhà A phố H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội.

Tại bản Thông báo Kết luận định giá tài sản số 1996/TBKL-HĐĐGTS ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, Thành phố Hà Nội, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 - 256 GB màu xanh dương (đã qua sử dụng) có bản ảnh kèm theo; trị giá 13.000.000₫.

Ngày 21/3/2024, Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng trả bà WangBi 01 chiếc điện thoại Iphone 14, màu xanh dương. Bà W nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự.

Cáo trạng số: 230/CT-VKSHN-P2 ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa, buộc tội bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/3/2024.

Về vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước chiếc xe máy thu giữ của bị cáo; tịch thu tiêu hủy những tài sản thu giữ không có giá trị.

Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, bày tỏ sự ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định sau:

[1] Về tố tụng:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, điều tra viên và kiểm sát viên đã thực hiện trong vụ án về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đó đều hợp pháp và đúng pháp luật.

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan; phù hợp với vật chứng thu được và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 18/3/2024, tại đoạn đường trước số nhà B, phố L, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội, bị cáo Lê Công H điều khiển xe máy hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 36B4-084.54 áp sát bà W đang sử dụng điện thoại. Khi đi đến gần vị trí của bà W đang đứng, bị cáo dùng tay phải điều khiển xe máy giảm ga áp sát, dùng tay trái giật 01 chiếc điện thoại Iphone 14, màu xanh dương trị giá 13.000.000 đồng rồi tăng ga bỏ chạy. Sau đó, bị cáo mang chiếc điện thoại trên bán cho anh Đinh Văn H4 được 3.000.000 đồng. Ngày 20/3/2024, bị cáo Lê Công H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H bắt giữ để điều tra về tội Cướp giật tài sản.

Hành vi của bị cáo Lê Công H đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân. Bị cáo chiếm đoạt tài sản của người nước ngoài làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh con người, văn hóa Việt Nam. Do vậy, cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân không có tiền án, tiền sự, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[3] Các vấn đề khác:

  • Chiếc điện thoại bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả bị hại, bị hại đã nhận và không yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • Anh Đinh Văn H4 là người mua chiếc điện thoại Iphone do bị cáo chiếm đoạt được. Nhưng anh H4 không biết đó là tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
  • Bị cáo bán điện thoại cho anh Đinh Văn H4 được 3.000.000đ; cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 2.100.000đ và anh Lê Công T (em bị cáo) tự nguyện giao nộp 900.000đ để khắc phục cho bị cáo; Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H4 3.000.000đ, anh H4 nhận và không yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Vật chứng thu giữ trong vụ án: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước những vật chứng thu giữ liên quan đến hành vi phạm tội. Tịch thu tiêu huỷ những vật chứng không có giá trị sử dụng.

[5] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[6] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát buộc tội bị cáo về tội đã truy tố, đề nghị mức hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Công H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1. Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 171, Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử phạt bị cáo:

Lê Công H 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/3/2024.

2. Vật chứng:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe máy kiểu dáng Honda Wave màu trắng gắn BKS: 36B4 - 084.54, số máy: HC12E5480608; Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm3; Nhãn hiệu: Honda; Số loại WAVE ALPHA; Màu sơn: Trắng đen bạc; Số máy: RLHHC1210DY480523; Dung tích xi lanh: 97cm3; năm sản xuất: 2014.

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc balo vải màu đen kích thước (46x27x17)cm; 01 áo dài tay màu đen có hoa văn màu vàng; 01 mũ bảo hiểm màu xanh lá cây.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H và Cục thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội.

3. Án phí: Bị cáo Lê Công H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án và VKS Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKS và Cục THADS Tp Hà Nội;
  • - Công an TP Hà Nội;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đăng Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 379/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 379/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: An so 379 - 10.7.24 Lê Công H- Cướp giật TS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger