|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 379/2025/HS-ST
Ngày: 11 -6 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Cao Quốc Hưng
- Bà Nguyễn Hương Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê P - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 314/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 373/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025, đối với các bị cáo:
Bùi Hoàng T, sinh năm 1992, tại Đ; nơi thường trú: Khu dân cư S, thôn V, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi T1 và bà Huỳnh Thị B; bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 03 anh em; có vợ là Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 1993 và 01 con sinh năm 2016.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/11/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Cao Văn T3, sinh năm 1985, tại Bạc Liêu; nơi thường trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Số B, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: sửa xe; trình độ văn hóa: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn V và bà Đoàn Thị L; bị cáo là con thứ năm trong gia đình có 05 anh em; có vợ là Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1983 và 01 con sinh năm 2013.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/11/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
A, sinh năm 2004;
Địa chỉ thường trú: Số I H, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa – Có đơn đề nghị vắng mặt.
2/ Anh Nguyễn Phi T4, sinh năm 2005;
Địa chỉ: Số A K, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh - Có đơn đề nghị vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do thiếu tiền tiêu xài, Bùi Hoàng T đi tìm người để tài sản sơ hở để lấy trộm bán lấy tiền, T đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 13/11/2024, Bùi Hoàng T đi bộ từ tiệm Internet trên đường L đến địa bàn phường L tìm tài sản trộm cắp để bán kiếm tiền tiêu xài. Đến khoảng 09 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi đến cửa hàng T5 trước cổng Trường đại học N trên đường H, phường L, thành phố T thì Bùi Hoàng T nhìn thấy 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen, biển số 79N3- 174.33 của anh Châu Gia M (sinh năm 2004) để khuất tầm nhìn, không người trông coi nên tiến đến dùng đoản (để trong túi quần bên phải) bẻ khóa lấy trộm xe tẩu thoát về hướng Quốc Lộ A. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, Bùi Hoàng T điều khiển xe trên đến tiệm S2 địa chỉ 61, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương bán cho Cao Văn T3 với giá 3.000.000 đồng. Khi đến thì Bùi Hoàng T có hỏi Cao Văn T3 là “có mua xe không giấy hay không” thì anh T3 nói có mua xe không giấy, T3 trả giá 2.000.000 đồng sau đó giá trả lên số tiền 3.000.000 đồng thì Bùi Hoàng T đồng ý bán. Cao Văn T3 đưa tiền mặt trực tiếp số tiền 3.000.000 đồng cho Bùi Hoàng T.
Bản kết luận định giá số 99-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 22/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen, biển số 79N3- 174.33 trị giá 14.900.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 6 giờ 10 phút ngày 14/11/2024, Bùi Hoàng T đi bộ từ tiệm Internet trên đường L đến địa bàn phường L tìm tài sản để trộm cắp bán kiếm tiền tiêu xài. Đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, Bùi Hoàng T đi bộ đến tuyến đường C thì vào quán cà phê căn tin HT số 26, C, phường L, thành phố T, Bùi Hoàng T, ngồi uống cà phê được một lúc thì có người đến cưa cây bên lề đường hỏi “xe này của ai có chìa khóa dắt đi chỗ khác để cưa cây”, Bùi Hoàng T thấy vậy tiến tới bật chìa khóa xe mô tô hiệu Yamaha Sirius FI màu đen vàng biển số 61D1- 567.44 của anh Nguyễn Phi T4 (sinh năm: 2005) và nổ máy xe chạy về đường 11 kế đường C để tẩu thoát về hướng Quốc Lộ A. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, Bùi Hoàng T điều khiển xe mô tô đến tiệm S2 địa chỉ 61 khu phố T, phường Đ, thành phố D, Bình Dương để bán cho Cao Văn T3 với giá 2.000.000 đồng. Khi đến bán thì Cao Văn T3 không hỏi gì mà đưa tiền mặt trực tiếp cho Bùi Hoàng T số tiền 2.000.000 đồng và lấy xe đẩy vào cửa tiệm.
Bản kết luận định giá số 93-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 19/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius FI màu đen vàng biển số 61D1- 567.44 trị giá 4.500.000 đồng.
Đến 14 giờ ngày 14/11/2024, Công an phường L đi tuần tra trên đường H, phường L phát hiện Bùi Hoàng T có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra phát hiện trong người có bộ dụng cụ bẻ khóa xe mô tô nên đưa T về làm việc và Bùi Hoàng T khai nhận đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản như trên.
Cơ quan Công an tiến hành cho Bùi Hoàng T chỉ điểm nơi bán 02 xe trộm cắp được vào ngày 13/11/2024 và ngày 14/11/2024 tại địa chỉ tiệm S2 địa chỉ F khu phố T, phường Đ, thành phố D, Bình Dương do Cao Văn T3 đứng tên làm chủ nên Cơ quan Công an đưa Cao Văn T3 về làm việc, Cao Văn T3 khai nhận biết rõ xe do T bán do phạm tội mà có, T3 mua với giá rẻ bán lại để kiếm lời. Sau khi, Cao Văn T3 mua 02 xe trên, T3 bán xe mô tô hiệu Yamaha Sirius FI màu đen vàng biển số 61D1- 567.44 với giá 3.500.000 đồng và bán xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen, biển số 79N3- 174.33 với giá 5.000.000 đồng cho người tên Lâm R (chưa rõ nhân thân lai lịch).
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T Bùi Hoàng T, Cao Văn T3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên
Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) cờ lê bằng kim loại dài khoảng 09 cm, 01 đầu có quấn bao nylon.
- 01 (một) thanh kim loại dài khoảng 07 cm, 01 đầu được mài dẹp.
- 01 (một) lốc số máy xe mô tô: LC152FMH01068649.
- 01 (một) lốc số máy xe mô tô: VMVUAA-D040620.
- 01 (một) Cục máy xe mô tô hiệu SAVI có số máy: RNT1P39F1MB00002023.
- 01 (một) áo thun đen có cổ, 01 quần thun đen.
Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Châu Gia M yêu cầu Bùi Hoàng T bồi thường số tiền 14.900.000 đồng các bị can chưa bồi thường.
- Anh Nguyễn Phi T4 yêu cầu Bùi Hoàng T, Cao Văn T3 bồi thường số tiền 4.500.000 đồng các bị can chưa bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 165/CT-VKSTPTĐ ngày 13/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố các bị cáo:
Bùi Hoàng T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Cao Văn T3 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố, các bị cáo thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Bùi Hoàng T 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Cao Văn T3 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2024.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại đã xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với các quy định của pháp luật. Các bị cáo, bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiệnhợp pháp.
Tại phiên toà bị hại là anh Châu Gia M, anh Nguyễn Phi T4 có đơn đề nghị vắng mặt. Xét thấy trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của bị hại. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh M, anh T4.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Xét trong quá trình điều tra, các bị cáo đã thừa nhận tất cả các hành vi, cách thức thực hiện tội phạm của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với Biên bản thực nghiệm hiện trường, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, bản tự khai của các bị cáo, bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 13/11/2024 Bùi Hoàng T lén lút trộm 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen, biển số 79N3- 174.33 của anh Châu Gia M trị giá 14.900.000 đồng tại trước cửa hàng T5, nhà số E, đường H, phường L, thành phố T. Ngày 14/11/2024, Bùi Hoàng T tiếp tục trộm 01 mô tô hiệu Yamaha Sirius FI màu đen vàng biển số 61D1- 567.44 của anh Nguyễn Phi T4 trị giá 4.500.000 đồng tại nhà số B, C, phường L, thành phố T. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 19.400.000 đồng.
Sau khi trộm được tài sản T mang xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen, biển số 79N3- 174.33 bán cho Cao Văn T3 với giá 3.000.000 đồng và bán xe mô tô hiệu Yamaha Sirius FI màu đen vàng biển số 61D1- 567.44 cho Cao Văn T3 với giá 2.000.000 đồng. Khi mua 02 xe trên, T3 biết rõ tài sản do T bán là tài sản do phạm tội mà có nhưng vẫn mua để bán lại kiếm lời. Ngày 14/11/2024, T3 bán 02 xe trên cho người thanh niên tên Lâm R (chưa rõ nhân thân lai lịch) với giá 8.500.000 đồng.
Bị cáo Bùi Hoàng T là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị xử lý nhưng vì muốn có tài sản sử dụng không phải bằng sức lao động của mình nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bất chấp hậu quả và pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, xã hội.
Bị cáo Cao Văn T3 có hành vi tiêu thụ tài sản, biết rõ là tài sản do phạm tội mà có, bị cáo đã tiếp tay, khuyến khích cho tội phạm đồng thời gây khó khăn cho Cơ quan điều tra trong việc điều tra, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, hành vi này trực tiếp xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng.
Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát thành phố T truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, cần có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
- Đối với tội trộm cắp tài sản: Tổng giá trị tài sản bị cáo Bùi Hoàng T chiếm đoạt là 19.400.000đồng thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Đối với tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có: Bị cáo Cao Văn Trung thu lợi bất chính 3.500.000 đồng từ việc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Bùi Hoàng T, Cao Văn T3 phạm tội hai lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, và xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Riêng đối với bị cáo Cao Văn T3, có thân nhân là người có công với cách mạng, được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) cờ lê bằng kim loại dài khoảng 09 cm, 01 đầu có quấn bao nylon; 01 (một) thanh kim loại dài khoảng 07 cm, 01 đầu được mài dẹp. Đây là công cụ bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội do đó cần tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 (một) lốc số máy xe mô tô: LC152FMH01068649; 01 (một) lốc số máy xe mô tô: VMVUAA-D040620; 01 (một) Cục máy xe mô tô hiệu SAVI có số máy: RNT1P39F1MB00002023 không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy;
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi Hoàng T đồng ý bồi thường cho các bị hại tổng số tiền 19.400.000đồng trong đó: Bồi thường cho anh Châu Gia M số tiền 14.900.000 đồng, anh Nguyễn Phi T4 số tiền 4.500.000 đồng. Xét thấy bị cáo T đồng ý bồi thường dựa trên tinh thần tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Cao Văn Trung thu lợi bất chính 3.500.000 đồng từ việc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Xét thấy số tiền nêu trên bị cáo có được từ hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo T3 nộp lại vào ngân sách nhà nước.
[8] Tại Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 203/2025/HSST-QĐ ngày 15/4/2025, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã đề nghị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức “Xác minh, thu thập thông tin của đối tượng đã chuyển tiền cho Nguyễn Ngọc S thông qua số tài khoản của S, số 1017824277 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 để mua 02 xe nêu trên vào các ngày 13/11/2024 và ngày 14/11/2024; Làm rõ mối quan hệ giữa đối tượng này và đối tượng tên "Lâm râu", từ đó xác minh nhân thân của hai đối tượng”. Tuy nhiên tại Công văn số 54/VKS ngày 13/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức hoàn trả hồ sơ vụ án với lý do phản hồi như sau “Đối với việc xác minh chủ tài khoản "NGUYEN THI TUYEN": Đây là tài khoản tại Ngân hàng N2 (A1), được xác định là có giao dịch chuyển tiền vào tài khoản của bà Nguyên Ngọc S1. Cơ quan điều tra đã nhiều lần gửi công văn yêu cầu A1 cung cấp thông tin về chủ tài khoản này nhưng đến nay vẫn chưa nhận được văn bản trả lời. Do đó, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ thông tin về chủ tài khoản này khi có đủ căn cứ. Đối với đối tượng Lâm R "chưa rõ nhân thân lai lịch”, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ sẽ tiến hành xử lý sau”. Nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, kiến nghị Cơ quan điều tra, Công an Thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tiếp tục tiến hành các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để làm rõ nhân thân các đối tượng nêu trên; nếu có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội, cần khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với những đối tượng có liên quan theo đúng quy định pháp luật.
[9] Về án phí: Các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Hoàng T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Tuyên bố bị cáo Cao Văn T3 phạm tội : “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
2. Về hình phạt:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Bùi Hoàng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Cao Văn T3 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) cờ lê bằng kim loại dài khoảng 09 cm, 01 đầu có quấn bao nylon.
- 01 (một) thanh kim loại dài khoảng 07 cm, 01 đầu được mài dẹp.
- 01 (một) lốc số máy xe mô tô: LC152FMH01068649.
- 01 (một) lốc số máy xe mô tô: VMVUAA-D040620.
- 01 (một) Cục máy xe mô tô hiệu SAVI có số máy: RNT1P39F1MB00002023.
- 01 (một) áo thun đen có cổ, 01 quần thun đen.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 136/QĐ-VKSTPTĐ ngày 11/3/2025 và Biên bản giao nhận tang tài vật ngày 17/3/2025).
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1 Điều 584; Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Bùi Hoàng T bồi thường cho các bị hại tổng số tiền 19.400.000đồng, trong đó: Bồi thường cho anh Châu Gia M số tiền 14.900.000 đồng, anh Nguyễn Phi T4 số tiền 4.500.000 đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Buộc bị cáo Cao Văn T3 nộp lại số tiền 3.500.000 đồng vào ngân sách nhà nước.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Bùi Hoàng T, Cao Văn T3, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Bùi Hoàng T phải chịu 970.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hiếu |
Bản án số 379/2025/HS-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 379/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Hoàng T và Cao Văn T3
