TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 379/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28-5-2025 "V/v Ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Xuyến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tuấn và ông Lý Khắc Chung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Trọng Tín là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên toà: Ông Triệu Nhựt Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 151/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025; Về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 260/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 406/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đỗ Q, sinh năm 1986 (có mặt).
Nơi cư trú: Số E, tổ A, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. - Bị đơn: Ông Ngũ Phú N, sinh năm 1981 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/02/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đỗ Q trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông N chung sống với nhau vào năm 2003, hôn nhân do tự tìm hiểu, quen biết nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V (nay là thị trấn V), huyện C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 175 ngày 13/6/2007. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không còn hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông N không chí thú làm ăn để lo cho vợ con mà thường uống rượu, chửi mắng, đánh bà vô cớ, bà có khuyên nhiều lần nhưng ông N không sửa đổi nên hôn nhân không còn hạnh phúc, bà và ông N ly thân từ tháng 7/2016 cho đến nay. Thời gian ly thân, vợ chồng không hàn gắn được tình cảm với nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn.
Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân có kéo dài cũng không còn hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ngũ Phú N1.
- Về con chung: Có 01 (một) con chung là Ngũ Thị Thanh N2, sinh ngày 21/7/2006 đã trưởng thành và có khả năng lao được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/5/2025, bị đơn ông Ngũ Phú N trình bày:
- Về hôn nhân: Ông và bà Q chung sống với nhau vào năm 2003, hôn nhân do tự tìm hiểu, quen biết nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V (nay là thị trấn V). Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xảy ra cự cãi với nhau do bà Q có tình cảm với người đàn ông khác bên ngoài, ông có khuyên nhiều lần nhưng không được. Về việc bà Q cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do ông thường uống rượu, chửi mắng, đánh đập bà Q là không đúng. Vợ chồng ly thân từ tháng 10/2019 cho đến nay, thời gian ly thân vợ chồng không hàn gắn được tình cảm với nhau do hiện nay bà Q đã có gia đình khác và có con riêng.
Nay trước yêu cầu ly hôn của bà Q ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đồng ý ly hôn với bà Q.
- Về con chung: Có 01 (một) con chung là Ngũ Thị Thanh N2, sinh ngày 21/7/2006 đã trưởng thành và có khả năng lao được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 56, Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Q, cho bà Q được ly hôn với ông N. Về con chung: Bà Q và ông N có 01 (một) con chung là Ngũ Thị Thanh N2, sinh ngày 21/7/2006 đã trưởng thành, có khả năng lao được và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không đề cập xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Q, ông N không yêu cầu nên đề nghị không đề cập xem xét, giải quyết. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết:
Bà Q khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung đối với ông N nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là "Tranh chấp ly hôn, nuôi con". Ông N có nơi cư trú trên địa bàn huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bà Q có mặt. Ông N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Bà Q và ông N kết hôn vào năm 2022, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên xét hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.
Xét thấy, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, thực tế bà Q và ông N đã không còn sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và hiện nay không còn chung sống với nhau. Ông bà đã ly thân từ tháng 10/2019 đến nay nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay bà Q yêu cầu ly hôn do bà không còn tình cảm với ông N, mâu thuẫn trầm trọng trong cuộc sống hôn nhân và bà từ chối hoà giải. Từ đó cho thấy, bà Q cương quyết trong việc yêu cầu ly hôn. Về phía ông N những lần Toà án triệu tập đến để tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải và phiên toà thì ông N đều vắng mặt và tại biên bản lấy lời khai ngày 28/5/2025, ông N đồng ý ly hôn. Điều đó cho thấy, ông N không có thiện chí mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà Q.
Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà Q và ông N. Tại biên bản xác minh ngày 27/11/2025 đại diện Ban khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang cho biết hôn nhân giữa bà Q và ông N có xảy ra mâu thuẫn hay không thì B khóm không biết do không trình báo địa phương.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân giữa ông bà đã thật sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q, cho bà Q được ly hôn với ông N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú.
[2.2] Về con chung: Bà Q và ông N có 01 (một) con chung là Ngũ Thị Thanh N2, sinh ngày 21/7/2006 đã trưởng thành và có khả năng lao được nên không đề cập xem xét, giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Q, ông N không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Bà Q phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào Điều 19, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đỗ Q.
- - Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Đỗ Q được ly hôn với ông Ngũ Phú N.
- - Về con chung: Bà Nguyễn Thị Đỗ Q và ông Ngũ P Nhiều có 01 (một) con chung là Ngũ Thị Thanh N2, sinh ngày 21/7/2006 đã trưởng thành và có khả năng lao được nên không đề cập xem xét, giải quyết.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không đề cập xem xét, giải quyết.
- - Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Đỗ Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án sô 0009504 ngày 19 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- - Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Đỗ Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Ngũ Phú N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Cẩm Xuyến |
Bản án số 379/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang về ly hôn
- Số bản án: 379/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đỗ Q. - Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Đỗ Q được ly hôn với ông Ngũ Phú N
