TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 379/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09-04-2025 V/v tranh chấp Ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Thành Viên
- Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương là Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đinh Hương Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 04 năm 2025 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1424/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 03 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mai N, sinh năm 1982; địa chỉ: phường Thạnh Lộc, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Bị đơn: Ông Lý Diệp Thanh T, sinh năm 1979; địa chỉ: Phường 17, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mai N trình bày:
Bà và ông T tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số ***, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường Y, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/12/2009. Giữa bà và ông T không có sự hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên cuộc sống chung không hạnh phúc. Bà và ông T đã sống ly thân từ ngày năm 2023 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung, có 01 con chung là Lý Ngọc Bảo N1, sinh ngày 17/09/2011. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu ông T cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông T là bị đơn mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập đến tòa lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T không đến nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về phiên toà sơ thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Theo yêu cầu khởi kiện của bà N quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn cư trú tại quận Gò Vấp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà N và ông T là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp được pháp luật công nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số ***, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường Y, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/12/2009.
Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hôn nhân chỉ đạt được mục đích khi xuất phát từ tình thương yêu giữa hai vợ chồng, cùng chung sống, cùng vun đắp, chăm sóc lẫn nhau để xây dựng một gia đình hạnh phúc.
Bà N cho rằng cuộc sống chung giữa bà và ông T không có hạnh phúc do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên cuộc sống chung không hạnh phúc. Ông bà đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Mặc dù Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T về nguyên nhân mâu thuẫn giữa ông và bà N nhưng căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện ông T đã nhiều lần trực tiếp nhận được các văn bản của Tòa án nhưng ông T không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của bà N, cũng không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa xét xử để tìm cách giải quyết, hàn gắn hạnh phúc gia đình. Như vậy ông T không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình.
Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa bà N và ông T là có thật, đã trầm trọng, tình cảm không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N theo quy định tại Điều 51, Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Xét yêu cầu nuôi dưỡng trẻ Lý Ngọc Bảo N1, sinh ngày 17/09/2011 của bà N. Hội đồng xét xử nhận thấy, từ thời điểm thụ lý vụ án đến nay, ông T không có ý kiến phản hồi về yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà N. Đồng thời trẻ N1 cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà N là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét, sau này phát sinh tranh chấp sẽ được khởi kiện bằng một vụ kiện khác.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí tòa án.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp về việc giải quyết vụ án là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mai N được ly hôn với ông Lý Diệp Thanh T.
- Về con chung: Giao con chung là Lý Ngọc Bảo N1, sinh ngày 17/09/2011 cho bà Nguyễn Thị Mai N trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị Mai N không yêu cầu ông Lý Diệp Thanh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mai N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) bà Nguyễn Thị Mai N đã nộp theo biên lai thu số 0056641 ngày 12/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Bà Nguyễn Thị Mai N đã đóng đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Giấy chứng nhận kết hôn số ***, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường Y, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/12/2009 hết hiệu lực.
Ông Lý Diệp Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở, tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Trên cơ sở lợi ích của con, cha, mẹ, người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi cần thiết đương sự có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Nhung |
Bản án số 379/2025/HNGĐ-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 379/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN SƠ THẨM
