Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

********

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

********

Bản án số: 379/2024/HS-PT

Ngày: 14-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Sự.

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Minh Nhựt

Bà Thái Thị Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Trung Kiên – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 206/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Hữu Đ do có kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Đồng Nai và Viện trưởng VKSND TP. Biên Hòa đối với bản án hình sự sơ thẩm số 719/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa.

Các bị cáo bị kháng nghị:

  1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1984, tại tỉnh Thanh Hóa;

    Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1963; có vợ Nguyễn Thị Hồng N1, sinh năm 1991 và có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/8/2023 đến ngày 12/10/2023, hiện đang tại ngoại

  2. Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1981, tại tỉnh Thái Bình

    Nơi cư trú: Khu C, thị trấn T, huyện, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1950 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1953 (đã chết); có vợ Trần Thị T2, sinh năm 1987 và có 02 con, lớn sinh năm 2010 và nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/8/2023 đến ngày 27/12/2023 được trả tự do tại phiên tòa sơ thẩm.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T và anh Phạm Mạnh T3 (sinh năm 1981, ngụ tại: tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B) có mối quan hệ là đối tác mua bán hàng hoá giả công kể sắt xuất khẩu. Vào năm 2020, T bán cho anh T3 01 lô hàng kể sắt xuất khẩu nhưng anh T3 chưa thanh toán tiền. T xác định số tiền anh T3 còn nợ là 158.000.000đ (Một trăm năm mươi tám triệu đồng) nhưng anh T3 chỉ xác nhận nợ T số tiền 90.000.000đ (Chín mươi triệu đồng) nên hai bên không chốt được số nợ, T đòi nợ nhiều lần nhưng anh T3 chưa thanh toán tiền cho T.

Khoảng 15 giờ ngày 12/08/2023, anh T3 đến gặp ông Phạm Văn Q (sinh năm 1979, ngụ tại số A, tổ C, khu phố A, phường T, thành phố B), ông Q và anh T3 đi qua nhà anh Định Văn H1 (sinh năm 1980) tại số D, tổ C, khu phố A, phường T, thành phố B để ngồi uống nước và bàn chuyện mua bán. Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, theo lịch đã hẹn trước, T đến gặp ông Q xem lô hàng ghế gỗ. T rủ thêm Nguyễn Hữu Đ, Nguyễn Văn C (sinh năm 1989, ngụ tại thôn A V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình) và Nguyễn Viết D (sinh năm 1985, ngụ tại thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng) cùng đi trên xe ô tô biển số 60A-743.71 do D điều khiển đến nhà ông Q thì tình cờ thấy anh T3 đang ngồi tại nhà anh H1 (đối diện nhà ông Q).

Khi nhìn thấy anh T3 ngồi tại nhà anh H1, T đi vào gặp và yêu cầu anh T3 trả tiền nợ số tiền 158.000.000đ nhưng anh T3 chỉ xác nhận nợ T số tiền 90.000.000đ và không đồng ý trả số tiền như T yêu cầu. Lúc này, anh T3 có lời lẽ thách thức T khởi kiện ra Toà án để giải quyết nên dẫn đến hai bên cãi nhau. T tức giận dùng tay, chân đấm đá vào người anh T3. Lúc này, Đ, CD thấy vậy cùng đứng dậy chặn đánh anh T3. Thấy hai bên xô xát cãi vã, anh H1 đuổi tất cả ra ngoài giải quyết, không được đành đi nhậu ở nhà anh H1 nên T cùng C, ĐD đẩy anh T3 ra khỏi nhà ông H1 để T và anh T3 nói chuyện giải quyết mâu thuẫn.

Khi T kéo anh T3 ra ngoài thì đẩy lên xe ô tô để nói chuyện nhưng Đ ngăn cản không cho lên vì xe ô tô trên thuộc quyền quản lý của ĐD không liên quan gì đến việc mâu thuẫn nợ nần giữa T và anh T3. Sau đó, T bỏ đi lại khu vực xe ô tô của mình đứng đợi T3 giải quyết mâu thuẫn với anh T. Còn T cùng CD đẩy anh T3 lại bãi đất trống thuộc tổ C, khu phố A, phường T, thành phố B.

Lợi dụng lúc T, ĐC không chú ý, anh T3 bỏ chạy được khoảng 20m thì bị T đuổi kịp và kéo anh T3 quay lại bãi đất trống để nói chuyện. Tại đây, T và anh T3 lại tiếp tục cãi nhau về việc nợ nần, T3 không đồng ý trả nợ và nói T

kiện ra toà để giải quyết. Bực tức nên T nhặt 01 sợi dây cáp điện thoại dài khoảng 02m có sẵn tại bãi đất trống quấn vào bàn tay đánh anh T3 và bắt anh T3 ngồi yên tại chỗ. Do thấy anh T3 không chịu thương lượng, T hù dọa nếu không trả nợ sẽ đưa anh T3 qua Campuchia nên anh T3 sợ và đứng lên bỏ chạy thì T đuổi theo bắt giữ rồi đưa lại ngồi xuống bãi đất trống ban đầu.

T lấy điện thoại di động của T3 gọi điện qua ứng dụng Zalo cho chị Nguyễn Thị T4 (vợ T3) yêu cầu T4 chuyển tiền trả nợ cho T nhưng chị T4 nói hiện tại không có tiền. Sau khi gọi điện xong, T chụp ảnh T3 tư thế đang ngồi dưới đất và gửi qua Zalo cho chị T4 rồi trả lại điện thoại cho anh T3. T dùng dây cáp điện thoại trói 2 tay sau của T3Đ, C hỗ trợ giữ tay chân T3 để T trói. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi biết anh T3 không có tiền trả nợ thì T cùng đồng bọn bỏ đi về, còn anh T3 tự cởi trói và đến Công an phường T, thành phố B trình báo sự việc.

- Vật chứng thu giữ: 01 xe ô tô hiệu Fortuner biển số: 60A-743.71 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Thế H2 (sinh năm 1971, ngụ tại số C, khu phố A, phường T, thành phố B). Ông H2 giao xe cho Nguyễn Viết D để sửa chữa và không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô cho ông H2 (Bút lục 189-191); 01 sợi dây cáp điện thoại dài khoảng 02m do Nguyễn Văn T sử dụng bắt giữ bị hại.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn T đã bồi thường chi phí khám bệnh và tổn thất tinh thần. Bị hại đã có đơn bãi nại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T.

* Bản án hình sự sơ thẩm số 719/2023/HSST ngày 27/12/2023 của TAND TP. Biên Hòa đã xét xử:

- Căn cứ khoản 1 Điều 157; Điều 17; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Nguyễn Văn T 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Căn cứ khoản 1 Điều 157; Điều 17; Điều 38; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt Nguyễn Hữu Đ 04 (bốn) tháng 13 (mười ba) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 14/8/2023. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Hữu Đ.

Bản án còn xử lý về vật chứng, quyền kháng cáo của bị cáo

* Ngày 08/1/2024 Viện trưởng VKSND TP . Biên Hòa ban hành kháng nghị số 195/QĐ-VKSBH đề nghị chuyển vụ án treo sang hình phạt tù đối với bị cáo T, tăng hình phạt đối với bị cáo Đ.

* Ngày 22/1/2024 Viện trưởng VKSND tỉnh Đồng Nai ban hành kháng nghị số 13/QĐ-VKS-P7 đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại do cho

rằng hành vi của các bị cáo T, Đ và đối tượng C đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại Điều 168 BLHS nhưng cấp sơ thẩm truy tố, xét xử các bị cáo T, Đ về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” là bỏ lọt hành vi phạm tội.

* Các bị cáo không kháng cáo.

* Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Về thủ tục kháng cáo: Kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Đồng Nai, Viện trưởng VKSND TP. Biên Hòa ban hành trong thời hạn luật định nên xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về đường lối: Hành vi của các bị cáo có dấu hiệu của tội chiếm đoạt tài sản nên việc cấp sơ thẩm chỉ truy tố, xét xử các bị cáo về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” là bỏ lọt tội phạm, do đó đề nghị HĐXX phúc thẩm chấp nhận Kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Đồng Nai hủy bản án sơ thẩm. Do hủy án sơ thẩm nên không xem xét kháng nghị của Viện trưởng VKSND TP. Biên Hòa về mức hình phạt áp dụng.

* Các bị cáo không tranh luận với ý kiến của Kiểm sát viên.

* Tại phần nói lời sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai và Viện trưởng VKSND TP. Biên Hòa được thực hiện trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Hữu Đ khai nhận hành vi phạm tội đúng như mô tả tại bản án sơ thẩm, cụ thể: Trong khoảng thời gian từ 15 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/08/2023, tại tổ C, khu phố A, phường T, thành phố B, Nguyễn Văn T cùng với Nguyễn Hữu Đ, Nguyễn Văn C (đã bỏ trốn khỏi địa phương và chưa làm việc được) thực hiện hành vi khống chế bắt anh Phạm Mạnh T3 ra bãi đất trống rồi dùng dây cáp điện thoại cột tay anh T3, dùng tay, chân đánh anh T3 nhằm buộc anh T3 thanh toán số tiền nợ mua hàng hóa trước đó. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, thấy mục đích khống chế T cùng đồng bọn bỏ đi về, còn anh T3 tự cởi trói và đến Công an trình báo sự việc.
  3. [3] Căn cứ các tài liệu chứng cứ được cơ quan điều tra thu thập, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa có căn cứ xác định Nguyễn Văn T, Nguyễn Hữu Đ có hành vi dùng vũ lực, dùng lời nói đe dọa đưa qua Campuchia đối với người bị hại Phạm Mạnh T3 nhằm buộc người bị hại, người thân của người bị hại giao ra số tiền 158.000.000đ để chiếm đoạt. Như vậy bên cạnh hành vi giữ người trái pháp luật, hành vi khách quan của các bị cáo còn có dấu hiệu của tội phạm khác

về chiếm đoạt tài sản nhưng chưa được truy tố xét xử là bỏ lọt tội phạm. Vì vậy kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại là có căn cứ.

Đối với kháng nghị số 195/QĐ-VKSBH ngày 08/1/2024 của Viện trưởng VKSND TP. Biên Hòa cho rằng mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên do hủy bản án sơ thẩm nên HĐXX không xem xét nội dung kháng nghị Viện trưởng VKSND TP. Biên Hòa

Từ các lập luận trên, HĐXX chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Đồng Nai đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Hữu Đ, hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại.

[4] Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; chấp nhận Kháng nghị số 13/QĐ-VKS-P7 ngày 22/1/2024 Viện trưởng VKSND tỉnh Đồng Nai

    Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 719/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa. Giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa để điều tra lại theo thủ tục sơ thẩm.

  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp tỉnh, huyện;
  • - TAND cấp sơ thẩm;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Công an cấp quận, huyện;
  • - Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền;
  • - Phòng PV06- Công an tỉnh;
  • - Nhà tạm giữ/Trại tạm giam;
  • - Bị cáo, đương sự trong vụ án;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Sự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 379/2024/HS-PT ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 379/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hủy án ST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger