Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 378/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23-5-2024

V/v "Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Quang Cảnh
  2. Ông Lê Ngọc Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1004/2023/HNST ngày 01 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 256/2024/QĐXXST-HN ngày 28 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 293/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1969 (Có mặt)
  2. Địa chỉ: Căn hộ C, lô B, phường S, quận T, Tp.

  3. Bị đơn: Ông Trần Đức T, sinh năm 1971 (vắng mặt)
  4. Nơi cư trú cuối cùng: 5 L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 19 tháng 10 năm 2023, bản tự khai và tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nguyên đơn bà Nguyễn Thị B trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị B và ông Trần Đức T tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 17/KH, quyển số 1/98 ngày 06/4/1998 do Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ 5 L, phường T, quận T. Thời gian đầu cả hai sống hạnh phúc nhưng đến năm 2005 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và ông T ngoại tình. Đến năm 2012, cả hai sống ly thân và từ đó ông T thường nhậu nhẹt, có nhiều người phụ nữ bên ngoài. Đến cuối năm 2019, ông T bỏ nhà đi, thời gian đầu thỉnh thoảng có về, đến tháng 3 năm 2020, ông T đi luôn không về nữa. Hiện nay, ông T đã bị tuyên bố mất tích theo Quyết định số 625/2023/QĐST-VDS, ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay bà B yêu cầu được ly hôn với ông T.

  • - Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Trần Đức Khánh T1, sinh ngày 14/8/1999 và Trần Đức Khánh N, sinh ngày 18/02/2001.

Do con chung trưởng thành, phát triển bình thường, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  • - Về tài sản chung, nghĩa vụ dân sự: Bà B xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung.

Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho ông Trần Đức T theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông T không đến Tòa án. Do đó, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • - Nguyên đơn bà Nguyễn Thị B đề nghị giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
  • - Bị đơn ông Trần Đức T vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến với nội dung chính như sau:

  • - Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng về thẩm quyền thụ lý vụ án; xác định quan hệ tranh chấp; xác định tư cách pháp lý; thu thập chứng cứ; thời gian tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự; Thời hạn chuẩn bị xét xử; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 17/KH, quyển số 1/98 ngày 06/4/1998 do Ủy ban nhân dân thị trấn C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, xác định quan hệ giữa bà Nguyễn Thị B và ông Trần Đức T là quan hệ hôn nhân được pháp luật công nhận. Nay bà B yêu cầu ly hôn, ông T có nơi cư trú cuối cùng tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm:

Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho ông Trần Đức T theo qui định tại Điều 177, 178, 179 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về yêu cầu của đương sự:

Tại phiên tòa ông Trần Đức T không có mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết theo quy định pháp luật. Ông Trần Đức T phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị B yêu cầu ly hôn với ông Trần Đức T.

Căn cứ vào bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà Nguyễn Thị B và ông Trần Đức T thực tế đã có mâu thuẫn về tính cách, lối sống. Mặt khác, căn cứ vào quyết định đã có hiệu lực thi hành số 625/2023/QĐST-DS, ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú tuyên bố ông Trần Đức T mất tích. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà B.

[2.2] Về con chung:

Bà B xác nhận vợ chồng có vợ chồng có hai con chung tên Trần Đức Khánh T1, sinh ngày 14/8/1999 và Trần Đức Khánh N, sinh ngày 18/02/2001.

Do con chung đã trưởng thành, phát triển bình thường, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3]Về tài sản chung, nghĩa vụ dân sự: Bà B xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác theo quy định pháp luật.

[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; khoản 1 Điều 147; Điều 171; Điều 177; Điều 179; Điều 196; Điều 208; Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 233; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị B được ly hôn với ông Trần Đức T.
  • Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị B và ông Trần Đức T (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17/KH, quyển số 1/98 ngày 06/4/1998 vào do Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp) chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

  • - Về con chung: Hai con chung tên Trần Đức Khánh T1, sinh ngày 14/8/1999 và Trần Đức Khánh N, sinh ngày 18/02/2001 đã trưởng thành, phát triển bình thường, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về tài sản chung, nghĩa vụ dân sự: Bà B xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác theo quy định pháp luật.

2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị B phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà B đã nộp theo biên lai thu số 0000134 ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi Tòa tuyên án mà có lý do chính đáng được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6;7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - Các đương sự;
  • - UBND nơi ĐKKH
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 378/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 378/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn với người mất tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger