Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 378/2023/HSST

Ngày: 21/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN – TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Anh Thư

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Lành và bà Nguyễn Thị Kim Thu

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Tuyến – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 358/2023/TLST-HS ngày 20/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 365/2023/QĐXXST-HS ngày 04/12/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Đình C (Tên gọi khác: không), sinh năm 1976

Nơi ĐKKHTT: Tổ 4, phường Tân Long thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 10/10; Dân tộc Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, đoàn thể, chính quyền): không; con ông Vũ T(đã chết) và bà Nguyễn Thị Th(đã chết); gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu; vợ: Ma Quỳnh L, sinh năm 1975 (đã ly hôn); con: Chưa có.

- Tiền sự: Không.

- Tiền án: Tại bản án số 73/HSPT ngày 20/02/1997, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm hình sự số 498 ngày 28/12/1996 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, xử phạt Vũ Đình C 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích". Chấp hành xong hình phạt từ ngày 30/12/1998, chấp hành xong án phí tháng 5/2005. Chưa thi hành xong phần bồi thường thiệt hại cho bị hại.

- Nhân thân: + Tại Bản án số 163 ngày 03/8/1993, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Vũ Đình C 09 tháng tù giam về tội “Tổ chức dùng chất ma túy” và 200.000 đồng xung quỹ nhà nước, án phí 15.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/1994, Chấp hành xong án phí và hình phạt bổ sung vào tháng 6 năm 2006.

+ Tại bản án số 236 ngày 16/6/2005 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt Vũ Đình C 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và án phí 50.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/3/2008. Chấp hành xong án phí ngày 09/01/2006.

+ Tại bản án số 127 ngày 14/6/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt C 08 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và ám phí 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2017. Chấp hành xong án phí ngày 29/9/2010.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2023). (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thế H, sinh năm 1979; địa chỉ: TDP Gia Bẩy, P. Đồng Bẩm, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. (có đơn xin vắng mặt).

Người chứng kiến: Anh Nguyễn Quang H, sinh năm 1992; Địa chỉ: Xóm Trung Thành, xã Quyết Thắng, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 18 giờ 10 phút ngày 14/8/2023, Tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên đang tuần tra kiểm soát tại khu vực thuộc tổ 1 phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên thì phát hiện một người đàn ông đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai họ tên là Vũ Đình C và tự giác giao nộp cho tổ công tác từ túi quần phía sau bên phải đang mặc 01 gói được cuộn bằng băng dính màu đen bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa cục chất bột màu trắng. C khai nhận đây là ma túy Heroine vừa mua để mang đi bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với C, thu giữ vật chứng theo quy định. Tạm giữ của C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, đã qua sử dụng và số tiền 400.000 đồng.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành cần xác định khối lượng số chất nghi ma túy thu giữ của C: Toàn bộ số cục chất bột màu trắng có khối lượng 3,732 gam, lấy toàn bộ số cục chất bột màu trắng đưa vào phong bì niêm phong ký hiệu C1 gửi đi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 1032/KL-KTHS ngày 22/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Các cục chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định về các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng thu giữ ban đầu là 3,732 gam.

Hồi 08 giờ 10 phút ngày 15/8/2023, Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành khám xét chỗ ở của Vũ Đình C tại tổ 04, phường Tân Long, thành phố Thái Nguyên, kết quả. Phát hiện 01 cân điện tử màu đen nhãn hiệu Picket Scale thu giữ tại kệ bàn tivi.

Hồi 09 giờ 00 phút ngày 15/8/2023, Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Thế H (sinh năm 1979, HKTT: Tổ dân phố Gia Bảy, phường Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên) tại tổ dân phố Gia Bảy, phương Đồng Bẩm, kết quả. Không phát hiện thu giữ gì.

Tại cơ quan điều tra, Vũ Đình C khai nhận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 14/8/2023, C sử dụng điện thoại di động gần số thuê bao 0184.821 562 gọi điện đến số thuê bao 0879 887.152 của Nguyễn Thế H mục đích để hỏi mua ma túy về bán kiếm lời, H đồng ý. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, C bắt xe taxi đi từ nhà xuống nhà H tại tổ dân phố Gia Bảy, phường Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên, đến nơi C đứng đợi ở ngoài cửa, sau đó H đi ra và bán cho C 01 gói ma túy Heroine bọc bằng túi nilon màu trắng và bên ngoài cuộn băng dính màu đen với giá 2.800.000 đồng. Mua xong C cất giấu gói ma túy vào trong túi quần phía sau bên phải đang mặc rồi bắt xe taxi đi về khu vực đường Mỏ Bạch thuộc phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên mục đích để bán kiếm lời. Khi đang đứng đợi khách đến hỏi mua ma túy thì bị tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang như nêu trên.

Lời khai nhận tội của Vũ Đình C phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, lời khai của người chứng kiến, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định cùng các tài liệu có trong hồ sơ.

Vật chứng vụ án: 02 bì niêm phong ký hiệu C1, C2; 01 bì niêm phong ký hiệu K bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, số IMEI 1: 358475772756625, số IMEI 2:359111892756620; 01 cân điện tử màu đen nhãn hiệu Pocket Scale. Số tiền 400.000 đồng tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành và lưu hành. Hiện các vật chứng trên được chuyển đến bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 360/CT- VKSTPTN, ngày 19/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Vũ Đình C về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ quyền công tố đã công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình C phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng: Khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt Vũ Đình C từ 5 năm 6 tháng đến 06 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 05 triệu đến 10 triệu đồng.

- Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu C1, C2; 01 cân điện tử màu đen nhãn hiệu Pocket Scale.

+ Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, số IMEI 1: 358475772756625, số IMEI 2:359111892756620 đã qua sử dụng, do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

+ Tạm giữ để thi hành án số tiền 400.000 đồng của bị cáo.

- Về án phí: Bị cáo phải phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Đình Chiế tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 18 giờ 10 phút ngày 14/8/2023, tại khu vực tổ 01, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, Vũ Đình C đã có hành vi tàng trữ 3.732 gam Heroine, mục đích để bán kiếm lời, trong lúc C đang đợi khách đến để hỏi mua ma túy thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Hành vi nêu trên của C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có mục đích lợi nhuận, thu lời bất chính. Tội phạm và hình phạt của bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Nội dung Điều 251 quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

[3]. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[4]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng:

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rõ ma túy là mặt hàng cấm do Nhà nước độc quyền quản lý, song do lợi nhuận bị cáo C đã có hành vi mua ma túy mục đích để bán kiếm lời. Việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết nhằm răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân rất xấu, bị xét xử nhiều lần về các tội có liên quan đến ma túy, có 01 tiền án: Tại bản án số 73/HSPT ngày 20/02/1997, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm hình sự số 498 ngày 28/12/1996 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, xử phạt Vũ Đình C 03 năm tù về tội “ Cố ý gây thương tích". Chấp hành xong hình phạt từ ngày 30/12/1998, chấp hành xong án phí tháng 5/2005. Chưa thi hành xong phần bồi thường thiệt hại cho bị hại, bản án này bị cáo chưa được xóa án tích, nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “ Tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, nên xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề xuất là phù hợp và cần được chấp nhận.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo C phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[7]. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu C1, C2; 01 cân điện tử màu đen nhãn hiệu Pocket Scale.

+ Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, số IMEI 1: 358475772756625, số IMEI 2:359111892756620 đã qua sử dụng, do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

+ Về số tiền 400.000 đồng thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai số tiền trên không phải từ việc bán ma túy mà có nên cần tạm giữ số tiền trên để thi hành án đối với bị cáo.

[8]. Các vấn đề khác: Nguồn gốc số ma tuý thu giữ, C khai mua của anh Nguyễn Thế H tại TDP Gia Bảy, phường Đồng Bẩm, thành phố Thái. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thái Nguyên đã tiến hành cho C nhận dạng và đối chất với H nH H khai không bán ma túy cho C nên Cơ quan điều tra không có cơ sở làm rõ để xử lý.

[9]. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật;

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: Khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt: Bị cáo Vũ Đình C: 05 năm 06 tháng (năm năm sáu tháng) tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/8/2023.

    Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo C số tiền 5.000.000đ(Năm triệu) đồng.

    Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Vũ Đình C 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu C1, bì niêm phong chứa 3,716 gam mẫu C1 và vỏ bao gói mẫu C1; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu C2, bì niêm phong chứa bì niêm phong ban đầu.
    • + Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, số IMEI 1: 358475772756625, số IMEI 2:359111892756620, điện thoại cũ đã qua sử dụng( được đựng trong bì niêm phong ký hiệu K), do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
    • + Tạm giữ số tiền 400.000đ(Bốn trăm nghìn đồng) của bị cáo để đảm bảo thi hành án( theo ủy nhiệm chi số 63 ngày 30/11/2023)

    (Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 60 ngày 19/12/2023).

  3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước;
  4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND, Tỉnh, TP;
  • - Công an TPTN;
  • - THA phạt tù;
  • - Sở Tư pháp TN;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Anh Thư

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 378/2023/HSST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN – TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 378/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN – TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Đình C phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger