Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 378/2024/DS-PT

Ngày 16-8-2024

V/v “chấm dứt hành vi cản trở

Quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Thanh Tùng

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Bình

Ông Lê Hữu Chiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Bà Đoàn Thị Thủy Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 256/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024, về tranh chấp “Chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất”. Do Bản án Dân sự sơ thẩm số: 42/2024/DS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024, của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐPT-DS ngày 18 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: ông Võ Phi H, sinh năm 1979; địa chỉ: số F, đường H, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
  2. Người đại diện hợp pháp của ông H bà Ngô Thị Kim Y, sinh năm 1981; địa chỉ: số nhà D, đường T, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; theo Văn bản ủy quyền ngày 24/4/2023; có mặt.

  3. Bị đơn: ông Ngô An D, sinh năm 1973; địa chỉ: số B, hẻm F, đường N, tổ A, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974; địa chỉ: số B, hẻm F, đường N, tổ A, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
    • 3.2. Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
    • 3.3. Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
  5. Người làm chứng:
    • 4.1. ông Đỗ Thiện N, sinh năm 1967; địa chỉ: số A, hẻm A, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
    • 4.2. ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1965; địa chỉ: số A, Ô, Quốc lộ B, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
  6. Người kháng cáo: bị đơn chị ông Ngô An D.
  7. Viện kiểm sát kháng nghị: không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa, nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc phần đất diện tích 2.822,9 m² thửa đất số 1635, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh là do ông H nhận chuyển nhượng từ bà Trần Thị K vào ngày 01/11/2022, với giá chuyển nhượng 570.000.000 đồng. Khi nhận chuyển nhượng trên phần đất bà K có một số bụi trúc; bà K có nói phần đất phía trước có người trồng trúc bà sẽ tự liên hệ dọn dẹp. Khi mua đất ông H có xem giấy đất thể hiện đất mặt phía trước giáp đường nên ông H cũng đồng ý mua. Đến năm 2023, ông H có nhu cầu sử dụng phần đất này nên có liên hệ trưởng ấp hỏi người trồng trúc là ai thì mới biết là ông Ngô An D, sau đó hai bên xảy ra tranh chấp. UBND xã T tổ chức hoà giải cho các bên ngày 20/4/2023, tại buổi hoà giải ông D cho rằng phần đất ông D trồng trúc là của ông D mua của người khác và yêu cầu ông H phải trả số tiền 250.000.000 đồng thì mới đồng ý tháo dỡ hàng trúc nếu không thì ông H rào đất lại do đó ông H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết.

Trước đây, tại đơn khởi kiện đề ngày 05/5/2023 ông H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Ngô An D trả lại phần đất lấn chiếm khoảng 70 m² thuộc diện tích đất 2822,9 m² thửa đất số 1635, tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, ông H đồng ý hỗ trợ chi phí di dời cho ông D là 2.000.000 đồng là do chưa tiến hành đo đạc nên ông Võ Phi H nghĩ rằng phần đất tranh chấp nằm trong thửa đất mà ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên khởi kiện tranh chấp với ông D phần đất này và yêu cầu di dời tài sản trên đất. Tuy nhiên, sau khi Toà án tiến hành đo đạc đất thể hiện phần đất tranh chấp diện tích 41,3 m² không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Võ Phi H mà thuộc lộ giới đường, do đó ông Võ Phi H xin rút lại yêu cầu khởi kiện buộc ông D trả lại phần đất này, chỉ yêu cầu ông D di dời tài sản trên đất trả lại cho ông H lối đi vào đất vì để vào phần đất này không còn lối đi nào khác, hiện tại do các bụi trúc chắn hết mặt trước phần đất của ông H, bịt hết lối đi vào đất làm cho ông H không thể sử dụng phần đất của ông H gây thiệt hại vườn cây của ông H, ảnh hưởng nghiêm trọng quyền sử dụng đất của ông H theo quy định của pháp luật, ông H đồng ý hỗ trợ cho ông D 2.000.000 đồng tiền chi phí di dời tài sản.

Đối với giá đất và tài sản trên đất đồng ý với giá đất mà hội đồng định giá đã định, không yêu cầu định giá lại. Không có ý kiến gì đối với sơ đồ đo đạc.

Bị đơn ông D, bà T trình bày: ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Phi H, vì lý do phần đất hiện vợ chồng ông đang sử dụng trồng trúc là do mua của vợ chồng ông Nguyễn Văn T1, bà Lê Thị Y1 (ông T1 là anh ruột của vợ ông) vào ngày 02/5/2019, có lập giấy tay mua bán “Giấy bán đất” vì phần đất này chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên trong giấy tay ông T1 viết toàn bộ nội dung và vẽ kích thước đất, ký tên xác nhận, giá thỏa thuận 05 chỉ vàng tương đương 15.000.000 đồng, ông đã giao đủ tiền cho ông T1 ngay khi viết giấy tay và ông T1 cũng đang giao đất cho ông quản lý, sử dụng từ đó đến nay.

Nguồn gốc phần đất này trước đây do ông T1 mua lại từ ông N (cũng mua bằng giấy tay). Nên phần đất tranh chấp diện tích 41,3 m² là của vợ chồng ông do đó ông không đồng ý di dời tài sản trên đất theo yêu cầu của ông Võ Phi H. Đất này là của ông nên ông yêu cầu được xây lại hàng rào đất. Mục đích ban đầu ông mua phần đất này từ ông T1 là để sau này bà K có bán phần đất phía trong thì ông sẽ mua nhưng bà K không thông báo cho ông việc bán đất mà đến khi ông H có đơn thưa ông ra UBND xã T thì ông mới biết bà K đã bán đất cho ông H. Ông thừa nhận do diện tích ông đang sử dụng quá nhỏ nên ông có liên hệ hỏi chính quyền địa phương thì được trả lời không thể cấp giấy CNQSDĐ được.

Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Tây Ninh trình bày:

Phần diện tích các đương sự tranh chấp theo Bản đồ địa chính chính quy theo hệ toạ độ VN-2000, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS17497 ngày 24/11/2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho ông Võ Phi H đứng tên và Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất số 481/SĐ-ĐC do Công ty TNHH Đ lập ngày 24/8/2023 là đất đường giao thông do Ủy ban nhân dân xã T quản lý, ông Ngô An D đang sử dụng phần đất diện tích thuộc đất giao thông và quy hoạch mở rộng lộ giới 20.5m.

Về con đường đất 10 mét thể hiện trên sơ đồ hiện trạng tại Bản đồ địa chính của xã T lập năm 1996 theo Chỉ thị 299 của Thủ tướng Chính phủ đã thể hiện có con đường này. Đối với việc quy hoạch lộ giới 20.5 mét hiện nay địa phương chưa có chủ trương giải toả, triển khai thực hiện.

Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh trình bày:

Phần đất diện tích 41,3 m² mà ông Ngô An D đang trồng trúc là đất đường giao thông do Ủy ban nhân dân xã T quản lý, việc ông D đang sư dụng phần đất này là không đúng quy định nhưng vì hiện tại chưa có chủ trương giải toả mở rộng lộ giới nên việc ai được quyền tạm giao sử dụng phần đất này là do Toà án giải quyết. Nguồn gốc phần đất mà ông H và ông D đang tranh chấp trước khi mở đường đất 10 mét của ai thì Ủy ban nhân dân xã T không xác định được vì từ trước đến nay phần đất này không có ai kê khai đăng ký.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 42/2024/DS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ các điều 147, 157, 165 và 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 169 của Bộ luật Dân sự; các điều 12, 166 của Luật Đất đai; Điều 12, 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Võ Phi H đối với ông Ngô An D, bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu trả lại phần diện tích 70 m² tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Phi H đối với ông Ngô An D, bà Nguyễn Thị T về việc “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật”.
  3. Buộc ông Ngô An D, bà Nguyễn Thị Triệu di d các tài sản trên phần đất diện 41,3 m², tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh bao gồm 10 bụi trúc và 01 cây mít, 08 trụ xi măng và kẽm rào.

    Ghi nhận ông Võ Phi H đồng ý thanh toán cho ông Ngô An D, bà Nguyễn Thị T giá trị cây trồng 2.000.000 đồng và hỗ chi phí di dời 2.000.000 đồng, tổng cộng 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

    Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn giải quyết về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, bị đơn ông Ngô An D có đơn kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm; yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần và mất thu nhập trong thời giant ham gia giải quyết vụ án là 20.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông Ngô An D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

  • + Về tố tụng: Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng những quy định pháp luật tố tụng dân sự.
  • + Về nội dung: đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

  1. Đơn kháng cáo của bị đơn ông Ngô An D nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. Xét nội dung kháng cáo.
    • [2.1] Ngày 05-5-2023 ông H khởi kiện ông D yêu cầu di dời 10 bụi trúc và trả lại 70m² đất do ông D lấn chiếm nằm trong thửa số 1635, tờ bản đồ 25 tại ấp T, xã T, thị xã H, do ông H đứng tên. Ngày 03-4-2024, ông H có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện; rút lại phần yêu cầu ông D phải trả lại 70m² đất; chỉ yêu cầu ông D do dời 09 bụi trúc để ông H đi vào sử đất. Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện này của ông H đối với ông D, bà T về việc yêu cầu trả lại phần đất diện tích 70m² tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, là có căn cứ, đúng pháp luật.
    • Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện cho nguyên đơn cho rằng ông D trồng trúc cản trở việc ông H sử dụng đất, nên yêu cầu ông D dời 09 bụi trúc để ông H đi vào sử đất. Không yêu cầu ông D phải mở lối đi.

    • [2.2] Phần đất diện tích 2.822,9 m² thửa đất số 1635, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh có nguồn gốc của bà Trần Thị K chuyển nhượng cho ông Võ phi H1; theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 01-11-2022; ông H1 đăng ký được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS16497 ngày 24-11-2022.
    • [2.3] Theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất của ông H1, ở hướng bắc ngoài ranh hiện trạng có hàng trúc của ông D đang quản lý sử dụng.
    • [2.4] Căn cứ lời khai của ông N, ông T1 và ông D có căn cứ xác định. Nguồn gốc phần đất trồng trúc là của ông là Đỗ Văn L (cha ông Nhơn) khai phá khoảng 6.000m² (06 công); năm 2013 ông L chia đất cho 06 người con, trong đó phần ông N được chia 12 mét ngang, dài 33 mét; sau đó Nhà nước mở con đường đi qua nên phần đất của ông N chia làm 02 phần; một phần ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã chuyển nhượng cho người khác; còn phần còn lại do diện tích quá nhỏ, không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được nên ông N trồng trúc đến năm 2015 chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn T1 bằng giấy tay, trong đó hai bên có vẽ sơ đồ đất; đến tháng 5 năm 2019 ông T1 chuyển nhượng lại cho ông D phần đất này. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thừa nhận hàng trúc được trồng cách đây 10 năm, đến năm 2019 ông D mới nhận chuyển nhượng và sử dụng.
    • [2.5] Như vậy, có đủ căn cứ xác định, hàng trúc có trước khi ông H1 nhận chuyển nhượng đất của bà K; ông H1 cho rằng vợ chồng ông D có hành vi trồng cây trên đất làm cản trở, gây khó khăn cho ông H1 thực hiện quyền của người sử dụng đất là không có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H1 là không đúng.
  3. Từ những phân tích nêu trên xét thấy yêu cầu kháng cáo của ông D là có căn cứ nên chấp nhận, sửa bản án sơ thẩm.
  4. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông D, giữ nguyên bản án sơ thẩm là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng: do yêu cầu khởi kiện của ông H1 không được chấp nhận, nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét, định giá tài sản.
  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên ông D không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
  7. Những phần của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 164, 169 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Ngô An D.
  2. Bản án Dân sự sơ thẩm số: 42/2024/DS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

    Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Phi H về việc yêu cầu ông Ngô An D bà Nguyễn Thị T về việc di dời các tài sản trên phần đất diện 41,3 m², tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, gồm 10 bụi trúc, 01 cây mít, 08 trụ xi măng và kẽm rào.

  3. Về tiền án phí dân sự sơ thẩm: ông Võ Phi H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí là 500.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0021574 ngày 08-6-2023 của Chi cục Thi hành án thị xã Hòa Thành; hoàn trả cho ông H 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí.
  4. Về chi phí tố tụng: ông Võ Phi H phải chịu 12.744.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản (đã nộp xong).
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: hoàn trả cho ông Ngô An D 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền số 0011377 ngày 10-7-2024 của Chi cục Thi hành án thị xã Hòa Thành.
  6. Những phần của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  7. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND TX Hòa Thành, Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS TX Hòa Thành;
  • - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu tập án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Tùng

PHIẾU ĐỀ XUẤT TRAO ĐỔI NGHIỆP VỤ

- Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Phan Thanh Tùng

Được phân công giải quyết vụ án Dân sự thụ lý số: 256/TLPT-DS ngày 15-7-2024 về tranh chấp “chấm dứt hành vi cản trở người khác sử dụng đất” giữa:

  1. Nguyên đơn: ông Võ Phi Hùng
  2. Bị đơn: ông Ngô Anh Dưỡng, bà Nguyễn Thị Triệu
  3. Người kháng cáo: bị đơn ông Dưỡng
  4. Viện kiểm sát kháng nghị: không.

I. Tóm tắc nội dung vụ án:

phần đất diện tích 2.822,9 m² thửa đất số 1635, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại ấp Trường Đức, xã Trường Đông, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh có nguồn gốc của bà Trần Thị Khương chuyển nhượng cho ông Võ phi Hùng; theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 01-11-2022; ông Hùng đăng ký được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS16497 ngày 24-11- 2022.

Theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất, ở hướng bắc thửa đất của ông Hùng có hàng trúc trồng cách đây 10 năm của ông Dưỡng đang quản lý sử dụng nhưng nằm ngoài ranh đất ông Hùng.

Ông Hùng kiện ông Dưỡng yêu cầu trả đất 70 m2, di dời hàng trúc để ông có lối đi ra đường công cộng. Sau đó, ông Hùng biết đất trồng trúc nằm trong quy hoạch lộ giới nhưng do ông Dưỡng quản lý sử dụng; nằm ngoài đất của ông nên rút lại yêu cầu này; chỉ yêu cầu di dời hàng trúc để ông có lối đi ra đường công cộng.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “chấm dứt hành vi cản trở người khác sử dụng đất”; buộc vợ chồng ông Dưỡng di dời 10 bụi trúc và 01 cây mít, 08 trụ xi măng và kẽm rào; ông Hùng bồi thường cho vợ chồng ông Dưỡng giá trị cây trồng 2.000.000 đồng và hỗ chi phí di dời 2.000.000 đồng, tổng cộng 4.000.000 đồng.

Ông Dưỡng kháng cáo yêu cầu hủy bản án và yêu cầu bồi thường tiền tổn thất tinh thần.

II. Quan điểm của Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa về việc giải quyết vụ án:

  1. Phần đất khoảng hơn 40 m² nằm trong quy hoạch lộ giới có nguồn gốc của ông Nhơn đã trồng trúc cách đây 10 năm (do diện tích nhỏ nên không cấp giấy CNQSDĐ), năm 2015 ông chuyển nhượng lại cho ông Tỵ, năm 2019 ông Tỵ chuyển nhượng lại cho ông Dưỡng (bằng giấy tay), hiện tại ông Dưỡng đang quản lý sử dụng.
  2. Ông Hùng nhận chuyển nhượng đất của bà Khương năm 2022 nằm phía trong, có lối đi ra đường công cộng ngang 02m.

Do phần đất và hàng trúc của vợ chồng ông Dưỡng nằm chắn ngang mặt tiền đất của ông Hùng; ông Hùng kiện yêu cầu mở lối đi. Tòa án cấp sơ thẩm không mở lối đi cho ông Hùng ngang, dài bao nhiêu để ông Hùng có lối ra. Mà xác định quan hệ tranh chấp là ông Dưỡng trồng trúc cản trở quyền sử dụng đất của ông Hùng, trong khi ông Dưỡng không thực hiện hành vi này; đồng thời xử buộc ông Dưỡng di dời 10 bụi trúc và 01 cây mít, 08 trụ xi măng và kẽm rào trên đất là không đúng. Xác định sai quan hệ tranh chấp.

Trường hợp vợ chồng ông Dưỡng chấp hành bản án di dời tài sản ra khỏi đất, nhưng dẫn sử dụng đất thì ông Hùng không vào được. Lý do, đất chưa thu hồi, đền bù làm đường.

Đề xuất: sửa bản án hoặc hủy.

IV. Ý kiến của UBTP

Thẩm phán

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 378/2024/DS-PT ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 378/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Chấm dứt hành vi cản trở Quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Hùng khởi kiện yêu cầu ông dưỡng chấm dứt hành vi cản trở lối đi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger