trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 378/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28/5/2025

“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Xuyến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tuấn và ông Lý Khắc Chung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Trọng Tín là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Thanh Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 126/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025; Về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 259/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 407/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trọng S, sinh năm 1998 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Nơi cư trú: Tổ F, ấp B, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Bà Đặng Thị Ngọc T, sinh năm 2005 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/02/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Trọng S trình bày:

- Về hôn nhân: Ông và bà T chung sống với nhau vào năm 2023, hôn nhân do tự tìm hiểu và quen biết nhau, không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Theo giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 30/01/2024. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không còn hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xảy ra cự cãi với

nhau về tình cảm do thiếu sự tin tưởng với nhau, không có tiếng nói chung nên hôn nhân không còn hạnh phúc, ông và bà T ly thân khoảng tháng 5/2024 cho đến nay, thời gian ly thân vợ chồng không hàn gắn được tình cảm với nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn.

Nay ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân có kéo dài cũng không còn hạnh phúc nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Đặng Thị Ngọc T.

- Về con chung: Có 01 con chung Nguyễn Hoàng Anh Q, sinh ngày 15/10/2023. Hiện nay, cháu Q đang sống cùng với ông. Khi ly hôn ông yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn bà Đặng Thị Ngọc T được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng không đến Toà án để tham gia các tiến trình tố tụng của Toà án thực hiện theo quy định của pháp luật và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trọng S.

Tại phiên tòa:

- Ông S vắng mặt tại phiên toà, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bà T vắng mặt tại phiên toà nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 56, Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S. Cho ông S được ly hôn với bà T. Về con chung: Ông S và bà T có 01 (một) con chung Nguyễn Hoàng Anh Q, sinh ngày 15/10/2023. Đề nghị giao cháu Q cho ông S được trực tiếp nuôi dưỡng. Ông S không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị không đề cập xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Ông S không yêu cầu nên đề nghị không đề cập xem xét, giải quyết. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

2

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết:

Ông S khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung đối với bà T nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là "Tranh chấp ly hôn, nuôi con". Bà T có nơi cư trú trên địa bàn huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, ông S vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bà T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Ông S và bà T kết hôn vào năm 2024, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên xét hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

Xét thấy, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, thực tế ông S và bà T đã không còn sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và hiện nay không còn chung sống với nhau. Ông bà đã ly thân từ tháng 05/2024 đến nay nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay ông S yêu cầu ly hôn do ông không còn tình cảm với bà T, mâu thuẫn trầm trọng trong cuộc sống hôn nhân và ông từ chối hoà giải. Từ đó cho thấy, ông S cương quyết trong việc yêu cầu ly hôn. Về phía bà T những lần Toà án triệu tập đến để tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải và phiên toà thì bà T đều vắng mặt. Điều đó cho thấy, bà T không có thiện chí mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng và không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của ông S.

Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa ông S và bà T. Tại biên bản xác minh ngày 05/5/2025 đại diện Ban ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang cho biết quá trình chung sống ông S và bà T có xảy ra mâu thuẫn hay không thì B ấp không biết.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân giữa ông bà đã thật sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S. Cho ông S được ly hôn với bà T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3

[2.2] Về con chung: Ông S và bà T có 01 (một) con chung là Nguyễn Hoàng Anh Q, sinh ngày 15/10/2023. Hiện nay, cháu Q đang sinh sống ổn định cùng ông S kể từ thời điểm hai bên ly thân. Mặc dù, cháu Q dưới 36 tháng tuổi, nhưng thực tế cho thấy cháu đã quen với môi trường sống hiện tại, được ông S chăm sóc, đảm bảo các điều kiện cần thiết cho sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Nếu thay đổi môi trường sống trong giai đoạn này có thể gây xáo trộn, ảnh hưởng bất lợi đến sự ổn định và phát triển của cháu Q. Do đó, để đảm bảo về sự phát triển mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Q cho ông S được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 58, Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông S không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, giải quyết.

Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật:

Căn cứ vào Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bà T là người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng có quyền đến thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung.

Ông S và các thành viên trong gia đình không được cản trở bà T đến thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên, các bên hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi về cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ông S không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Ông S phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 260 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Điều 19, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trọng S.

- Về hôn nhân: Cho ông Nguyễn Trọng S được ly hôn với bà Đặng Thị Ngọc T.

4

- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Anh Q, sinh ngày 15/10/2023 cho ông Nguyễn Trọng S được trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không đề cập xem xét, giải quyết.

Ông S và các thành viên trong gia đình không được cản trở bà T đến thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên, các bên hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi về cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không đề cập xem xét, giải quyết.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Nguyễn Trọng S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0009432 ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Trọng S, bà Đặng Thị Ngọc T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Phú;
  • - UBND xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Phạm Thị Cẩm Xuyến

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 378/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 378/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trọng S. - Về hôn nhân: Cho ông Nguyễn Trọng S được ly hôn với bà Đặng Thị Ngọc T.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger