|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 377/2023/HS-ST Ngày 29/12/2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quang Long;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Hiệp
Ông Vương Đình Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụ – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lưu Thị Dáng Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 396/2023/TLST-HS ngày 7 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 389/2023/HSST – QĐ ngày 14/12/2023 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Thị H, sinh năm 1985. Giới tính: Nữ. Tên gọi khác: không. NKTT: Tổ 28 phường D, Cầu G, Hà Nội. Nơi ở hiện tại: P1904 chung cư M N, phường C, N, Hà Nội. Văn hóa: 12/12. Nghề nghiệp : Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Bố: Hoàng Văn H1, sinh năm 1965 (Đã chết ). Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1965. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất. Chồng: Lê Văn D, sinh năm 1984. Có 01 con; sinh năm 2015. D1 chỉ bản số 204, lập ngày 8/8/2022 tại PC02- CAHN; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Cao Thị Thùy L, sinh năm 1986. HKTT: SỐ F, tổ A, phường G, quận B, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Cao Thị Thùy L (SN: 1986; HKTT: Số F tổ A, P. G, B, Hà Nội) làm nghề kinh doanh mua bán bảo hiểm cá nhân. Khoảng cuối năm 2017, Hoàng Thị H mua bảo hiểm của chị L nên từ đó H và chị L có mối quan hệ thân thiết nhau. Chị L rủ H tham gia kinh doanh bảo hiểm cùng chị L nhưng do đang làm kế toán cho Công ty của anh Lê Viết T1 (SN: 1979; Nơi cư trú: Số A ngõ A Y, phường Y, quận C, Hà Nội- là Giám đốc công ty Q1, chuyên kinh doanh đèn Led) nên H từ chối. Do cần tiền đầu tư các hợp đồng mua bán bảo hiểm nên chị L đã đặt vấn đề vay tiền của H để ứng trước cho khách hàng, khi khách hàng trả lại tiền thì chị L sẽ trả cho H, Hòa đồng ý cho chị L vay tiền. Trong thời gian từ cuối năm 2017 đến tháng 10/2018, H đã cho chị L vay nhiều khoản tiền khác nhau có lấy lãi suất, bằng hình thức chuyển tiền mặt và chuyển khoản từ số tài khoản 03301011201686 ngân hàng M và số tài khoản 22010000475656 ngân hàng BIDV của H đến số tài khoản 26010000847390 ngân hàng B và số tài khoản 19033024151014 ngân hàng T4 của chị L với tổng số tiền gốc là khoảng 8.000.000.000 đồng. Số tiền H cho chị L vay, ngoài tiền vốn của H thì H còn huy động thêm tiền vốn của anh Lê Viết T1, anh Đỗ Lê Q (SN: 1975; HKTT: SỐ I N, phường T T, T, Hà Nội) và chị Trịnh Thu H2 (SN: 1983; HKTT: SỐ D TT B KĐT V, phường P, H, Hà Nội).
Trong các khoản tiền H cho chị L vay, Cơ quan điều tra đã làm rõ trong khoảng thời gian từ ngày 28/02/2018 đến ngày 30/10/2018, H đã cho chị L vay 11 (mười một) khoản tiền khác nhau với tổng số tiền là 855.000.000 đồng, H đã cắt lãi trước 11 khoản tiền cho vay trên với số tiền là 97.300.000 đồng (Tương ứng mức lãi suất cho vay gấp hơn 5 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự), cụ thể các khoản cho vay lãi nặng như sau:
Khoản 1: Ngày 28/02/2018, H cho chị L vay khoản vay 30.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 28/02/2018 đến ngày 10/03/2018, H yêu cầu chị L viết giấy biên nhận có nội dung “Chị L có nhận của Trịnh Thu H2 số tiền 30.000.000 đồng để mua chiếc xe Aiblade, hẹn đến ngày 10/3/2018 sẽ trả” Hòa tính lãi suất của 11 ngày (từ ngày 28/02/2018 đến ngày 10/03/2018) là 3.000.000 đồng. Ngày 28/02/2018, H chuyển khoản từ số tài khoản của H (Ngân hàng M) đến số tài khoản của chị L (Ngân hàng B) số tiền 27.000.000 đồng, ghi nội dung “Chi hoa chuyen tien”. Như vậy H đã cắt lãi trước số tiền 3.000.000 đồng. Đến ngày 10/03/2018, chị L đã trả số tiền 30.000.000 đồng cho H dưới hình thức chuyển khoản từ số tài khoản của chị L (Ngân hàng B) đến số tài khoản của H (Ngân hàng M), ghi nội dung “e lien ck”. Như vậy lãi suất của khoản vay này là 272.727 đồng/1 ngày, (tương ứng lãi suất phải trả là: 272.727 đồng x 365/27.000.000 đồng x 100% = 368,68%/năm) gấp 18,43 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Hình sự không quá 20%/1 năm, tương đương số tiền là 27.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 11 ngày = 162.739 đồng. Số tiền thu lời bất chính là 3.000.000 đồng – 162.739 đồng = 2.837.261 đồng.
Khoản 2: Ngày 07/6/2018, H cho chị L vay khoản vay 80.000.000 đồng, H yêu cầu chị L viết giấy biên nhận có nội dung “Chị L có nhận của chị Trịnh Thu H2 số tiền 80.000.000 đồng để mua chiếc xe máy SH 150i, hẹn đến ngày 16/6/2018 sẽ trả”. H tính lãi suất của 10 ngày (từ ngày 07/6/2018 đến ngày 16/6/2018) số tiền 6.400.000 đồng. Ngày 07/6/2018, H chuyển khoản từ số tài khoản của H (Ngân hàng M) đến số tài khoản của chị L (Ngân hàng B) số tiền 73.600.000 đồng, ghi nội dung “Chi hoa chuyen khoan”. Như vậy H đã cắt lãi trước số tiền 6.400.000 đồng. Đến ngày 18/6/2018, chị L đã trả số tiền gốc 80.000.000 đồng và thêm 2.000.000 đồng tiền lãi của 2 ngày (ngày 17 và 18/6/2018) cho H dưới hình thức chuyển khoản từ số tài khoản của chị L (Ngân hàng B) đến số tài khoản của H (Ngân hàng M), ghi nội dung “E lien ck”. Như vậy lãi suất của khoản vay 80.000.000 đồng là 640.000 đồng/1 ngày (tương ứng lãi suất phải trả là: 640.000 đồng x 365 ngày/73.600.000 đồng x 100% = 317,39%/năm), gấp 15,87 mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Ngoài ra số tiền lãi 2.000.000 đồng đối với 2 ngày trả muộn thì lãi suất là 1.000.000 đồng /1 ngày (tương ứng lãi suất phải trả là: 1.000.000 đồng x 365/73.600.000 đồng x 100% = 496%/năm), gấp 24,8 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. H đã thu tiền lãi là 8.400.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự không quá 20%/1 năm, tương đương số tiền là 73.600.000 đồng x 20%/365 ngày x 12 ngày = 483.945 đồng. Số tiền thu lời bất chính là 8.400.000 đồng – 483.945 đồng = 7.916.055 đồng.
Khoản 3: Ngày 25/6/2018, H cho chị L vay khoản vay 90.000.000 đồng, H yêu cầu chị L viết giấy biên nhận có nội dung “Chị L có nhận của Trịnh Thu H2 số tiền 90.000.000 đồng để mua chiếc xe máy SH, hẹn ngày 10/7/2018 sẽ trả” Hòa tính lãi suất của 16 ngày (từ ngày 25/6/2018 đến ngày 10/7/2018) số tiền lãi 10.800.000 đồng. Ngày 25/6/2018, H chuyển khoản từ số tài khoản của H (Ngân hàng M) đến số tài khoản của chị L (Ngân hàng B) số tiền 59.000.000 đồng, ghi nội dung “Chi Beo cho vay”; ngày 26/6/2018 H chuyển cho chị L số tiền 20.200.000 đồng, ghi nội dung “C beo ck mon 90 tr” (Tổng 2 khoản là 79.200.000 đồng). Như vậy, H đã cắt lãi trước số tiền 10.800.000 đồng. Đến ngày 10/7/2018, chị L đã trả tiền gốc cho H số tiền 90.000.000 đồng dưới hình thức chuyển khoản từ số tài khoản của chị L (Ngân hàng B) đến số tài khoản của H (Ngân hàng M), ghi nội dung “E lien ck”. Như vậy lãi suất của khoản vay này là 675.000 đồng/1 ngày (tương ứng lãi suất phải trả là: 675.000 đồng x 365/79.200.000 đồng x 100% = 311%/1 năm) gấp 15,55 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự không quá 20%/1 năm, tương đương số tiền là 79.200.000 đồng x 20%/365 ngày x 16 ngày = 694.356 đồng. Số tiền thu lời bất chính là 10.800.000 đồng – 694.356 đồng = 10.105.644 đồng.
Khoản 4: Ngày 30/6/2018, H cho chị L vay khoản vay 28.000.000 đồng, H yêu cầu chị L viết giấy biên nhận với nội dung “Chị L có nhận của chị Trịnh Thu H2 số tiền 28.000.000 đồng để mua chiếc xe Wave, hẹn ngày 12/7/2018 sẽ trả” Hòa tính lãi suất của 13 ngày (từ ngày 30/6/2018 đến ngày 12/7/2018) số tiền lãi là 2.800.000 đồng. Ngày 30/6/2018, H chuyển khoản từ số tài khoản của H (Ngân hàng M) đến số số tài khoản của chị L (Ngân hàng B) số tiền 25.200.000 đồng, ghi nội dung “C Beo ck Lien”. Như vậy H đã cắt lãi trước số tiền 2.800.000 đồng. Đến ngày 12/7/2018, chị L đã trả số tiền gốc 28.000.000 đồng cho H bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản của chị L (Ngân hàng B) đến số tài khoản của H (Ngân hàng M), ghi nội dung “E lien ck”. Như vậy lãi suất của khoản vay này là 215.384 đồng/1 ngày (tương ứng lãi suất phải trả là: 215.384 đồng x 365 ngày/25.200.000 đồng x 100% = 311,9%/1 năm) gấp 15,6 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự không quá 20%/1 năm, tương đương số tiền là 25.200.000 đồng x 20%/365 ngày x 13 ngày = 179.506 đồng. Số tiền thu lời bất chính là 2.800.000 đồng – 179.506 đồng = 2.620.494 đồng.
Khoản 5: Ngày 17/7/2018, H cho chị L vay khoản vay 79.000.000 đồng, hẹn đến ngày 26/7/2018 sẽ trả, nhưng trả lãi suất sau. H tính lãi 10 ngày (từ ngày 17/7/2018 đến ngày 26/7/2018) là 8% tương đương 6.320.000 đồng. Ngày 17/7/2017, H chuyển khoản từ số tài khoản của H (Ngân hàng M) đến số tài khoản của chị L (Ngân hàng B) số tiền 79.000.000 đồng, ghi nội dung “Beo CK tien cho L1”. Đến ngày 22/7/2018, H cho chị L vay thêm số tiền 20.000.000 đồng, hẹn đến ngày 28/7/2018 sẽ trả. H tính lãi của 7 ngày (từ ngày 22/7/2018 đến ngày 28/7/2018) là 5% tương đương số tiền lãi 1.000.000 đồng. Ngày 22/7/2018, H chuyển khoản từ số tài khoản của H (Ngân hàng M) đến số tài khoản của chị L (Ngân hàng B) số tiền 20.000.000 đồng, ghi nội dung “Beo ck lien mon 21 tr”. Ngày 22/7/2018, H yêu cầu chị L viết giấy biên nhận gộp 2 khoản vay có nội dung “Chị L nhận của Trịnh Thu H2 số tiền như sau: Ngày 17/7/2018 chị L nhận của Hằng số tiền 85.300.000 đồng để mua chiếc xe SH mode hẹn đến ngày 26/7/2018 sẽ gửi lại; Ngày 22/7/2018 nhận số tiền 21.000.000 đồng để mua chiếc xe Wave hẹn đến ngày 28/7/2018 sẽ trả. Đến ngày 30/7/2018, chị L chuyển khoản tổng số tiền 80.000.000 đồng cho H (trong đó chuyển khoản số tiền 50.000.000 đồng từ số tài khoản Ngân hàng B của chị L đến số tài khoản Ngân hàng M, ghi nội dung “E lien ck” và chuyển số tiền 30.000.000 đồng đến số tài khoản Ngân hàng B của H, ghi nội dung “E lien ck”) và ngày 31/7/2018 chị L chuyển từ số tài khoản (Ngân hàng M) đến số tài khoản của H (Ngân hàng B) số tiền 5.500.000 đồng, ghi nội dung “E lien ck”. Như vậy chị L đã thanh toán cho H tổng số tiền 85.300.000 đồng của khoản vay ngày 17/7/2018. Ngày 30/7/2018, chị L chuyển khoản từ số tài khoản (Ngân hàng M) đến số tài khoản của H (Ngân hàng B) số tiền 21.000.000 đồng, ghi nội dung “E lien co c beo”, để thanh toán khoản vay 21.000.000 đồng ngày 22/7/2018. Như vậy lãi suất của khoản vay 79.000.000 đồng là 630.000 đồng /1 ngày (tương ứng lãi suất phải trả là: 630.000 đồng x 365/79.000.000 đồng x 100% = 291%/1 năm) gấp 14,55 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự; Lãi suất của khoản vay 20.000.000 đồng là 142.857 đồng/1 ngày (tương ứng lãi suất phải trả là: 142.857 đồng x 365/20.000.000 đồng x 100% = 260,7%/1 năm) gấp 13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tổng số H đã cho chị L vay 99.000.000 đồng và đã thu lợi là 7.300.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự không quá 20%/1 năm, tương đương số tiền 2 khoản vay là (79.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 10 ngày = 432.876 đồng) + ( 20.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 7 ngày = 76.712 đồng) = 509.588 đồng. Số tiền thu lời bất chính là 7.300.000 đồng – 509.588 đồng = 6.790.412 đồng.
Khoản 6: Ngày 17/8/2018, H cho chị L vay số tiền 50.000.000 đồng, H yêu cầu chị L viết giấy biên nhận có nội dung “chị L nhận của Trịnh Thu H2 số tiền 50.000.000 đồng để mua chiếc xe máy SH mode, hẹn đến ngày 31/8/2018 sẽ trả” H tính lãi suất của 15 ngày (từ ngày 17/8/2018 đến ngày 31/8/2018) là 10% tương đương 5.000.000 đồng. Ngày 17/8/2018, H chuyển khoản từ số tài khoản của H (Ngân hàng M) đến số tài khoản của chị L (Ngân hàng B) số tiền 45.000.000 đồng, ghi nội dung “C Beo ck Lien mon 50tr”. Như vậy, H đã cắt lãi trước số tiền 5.000.000 đồng. Đến ngày 31/8/2018 chị L trả H số tiền 50.000.000 đồng bằng hình thức chuyển từ số tài khoản của chị L (Ngân hàng B) đến số tài khoản của H (Ngân hàng M), không ghi nội dung. Như vậy lãi suất của khoản vay này là 333.333 đồng /1 ngày (tương ứng lãi suất phải trả là: 333.333 đồng x 365 ngày /45.000.000 đồng x 100% = 270,3%/1 năm) gấp 13,51 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự không quá 20%/1 năm, tương đương số tiền khoản vay là 45.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 15 ngày = 369.863 đồng. Số tiền thu lời bất chính là 5.000.000 đồng – 369.863 đồng = 4.630.137 đồng.
Khoản 7: Ngày 30/10/2018, H cho chị L vay số tiền 110.000.000 đồng đến ngày 14/11/2018 sẽ trả. H tính lãi suất của 15 ngày (từ ngày 30/10/2018 đến ngày 14/11/2018) là 10% tương đương số tiền 10.000.000 đồng. Ngày 30/10/2018, H chuyển khoản số tiền 15.000.000 đồng, ghi nội dung “Chi Beo Ck Lien” và ngày 31/10/2018 H chuyển số tiền 85.000.000 đồng, ghi nội dung “Chi Beo ck E Lien mon 110 tr” từ số tài khoản của H (Ngân hàng M) đến số tài khoản của chị L (Ngân hàng B). Ngày 31/10/2018, H yêu cầu chị L viết giấy biên nhận có nội dung “chị L nhận của Trịnh Thu H2 số tiền 110.000.000 đồng để mua chiếc xe SH150i, hẹn đến ngày 14/11/2018 sẽ gửi lại”, vậy H đã cắt lãi trước số tiền 10.000.000 đồng. Như vậy lãi suất của khoản vay này là 666.666 đồng /1 ngày (tương ứng lãi suất phải trả là: 666.666 đồng x 365 ngày/100.000.000 đồng x 100% = 243,3%/1 năm) gấp 12,16 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Khoản vay này chị L và H đều không nhớ đã trả tiền gốc chưa (Sao kê tài khoản ngân hàng không có khoản tiền tương ứng chị L chuyển trả tiền gốc cho H). Số tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự không quá 20%/1 năm, tương đương số tiền khoản vay là 100.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 15 ngày = 821.917 đồng. Số tiền thu lời bất chính là 10.000.000 đồng – 821.917 đồng = 9.178.083 đồng.
Khoản 8: Ngày 15/3/2018, H cho chị L vay số tiền 150.000.000 đồng, H yêu cầu chị L viết giấy biên nhận tiền có nội dung “chị L nhận của Lê Viết T1 số tiền 150.000.000 đồng để mua một chiếc xe máy SH150i, hẹn đến ngày 3/4/2018 sẽ trả” Hòa tính lãi suất của 20 ngày (từ ngày 15/3/2018 đến ngày 03/4/2018) tương đương số tiền 18.000.000 đồng. Ngày 15/3/2018, H nộp tiền trực tiếp vào số tài khoản của chị L (Ngân hàng B) số tiền 132.000.000 đồng, ghi nội dung “HOANG THỊ HOA NT”, H đã cắt lãi trước số tiền 18.000.000 đồng. Như vậy lãi suất của khoản vay này là 900.000 đồng/1 ngày (tương ứng lãi suất phải trả là: 900.000 đồng x 365 ngày/132.000.000 đồng x 100% = 248,8%/1 năm) gấp 12,44 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Khoản vay này chị L và H không nhớ đã trả tiền gốc chưa (Sao kê tài khoản ngân hàng không có khoản tiền gốc tương ứng chị L chuyển trả cho H). Số tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự không quá 20%/1 năm, tương đương số tiền khoản vay là 132.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 20 ngày =1.446.575 đồng. Số tiền thu lời bất chính là 18.000.000 đồng – 1.446.575 đồng = 16.553.425 đồng.
Khoản 9: Ngày 26/4/2018, H cho chị L vay số tiền 80.000.000 đồng, H yêu cầu chị L viết giấy biên nhận có nội dung “chị L nhận của Lê Viết T1 số tiền là 80.000.000 đồng để mua chiếc xe máy SH 150i, hẹn ngày 11/5/2018 sẽ gửi lại” H tính lãi suất của 15 ngày (từ ngày 26/4/2018 đến ngày 11/5/2018) là 10% tương đương số tiền 8.000.000 đồng. Ngày 26/4/2018, H chuyển khoản cho chị L bằng hình thức nộp tiền mặt vào số tài khoản của chị L (Ngân hàng B) số tiền 72.000.000 đồng, ghi nội dung “HOANG THỊ HOA NT”. H đã cắt lãi trước số tiền 8.000.000 đồng. Như vậy lãi suất của khoản vay này là 533.333 đồng/1 ngày (tương ứng lãi suất phải trả là: 533.333 đồng x 365 ngày/72.000.000 đồng x 100% = 270,3%/1 năm) gấp 13,51 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Khoản vay này chị L và H không nhớ đã trả tiền gốc chưa (Sao kê tài khoản ngân hàng không có khoản tiền gốc tương ứng chị L chuyển trả cho H). Số tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự không quá 20%/1 năm, tương đương số tiền khoản vay là 72.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 15 ngày = 591.780 đồng. Số tiền thu lời bất chính là 8.000.000 đồng – 591.780 đồng = 7.408.220 đồng.
Khoản 10: Ngày 14/5/2018, H cho chị L vay số tiền 76.000.000 đồng, H yêu cầu chị L viết giấy biên nhận có nội dung “chị L đã nhận của Lê Viết T1 số tiền 76.000.000 đồng để mua chiếc xe SH, hẹn ngày 23/5/2018 sẽ trả” Hòa tính lãi suất của 10 ngày (từ ngày 14/5/2018 đến ngày 23/5/2018) là 8% tương đương số tiền 6.080.000 đồng. Ngày 14/5/2018, H chuyển khoản từ số tài khoản của H (Ngân hàng M) đến số tài khoản của chị L (Ngân hàng B) số tiền 70.000.000 đồng, ghi nội dung “Anh T2 ck mon 76 tr da cat”. Thực tế H đã cắt lãi trước số tiền 6.000.000 đồng. Như vậy lãi suất của khoản vay này là 600.000 đồng/1 ngày (tương ứng lãi suất phải trả là: 600.000 đồng x 365 ngày/70.000.000 đồng x 100% = 312,85%/1 năm) gấp 15,64 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Khoản vay này chị L và H không nhớ đã trả tiền gốc chưa (Sao kê tài khoản ngân hàng không có khoản tiền gốc tương ứng chị L chuyển trả cho H). Số tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự không quá 20%/1 năm, tương đương số tiền khoản vay là 70.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 10 ngày = 383.561 đồng. Số tiền thu lời bất chính là 6.000.000 đồng – 383.561 đồng = 5.616.439 đồng.
Khoản 11: Ngày 30/5/2018, H cho chị L vay số tiền 150.000.000 đồng, H yêu cầu chị L viết giấy biên nhận có nội dung “chị L đã nhận của Lê Viết T1 số tiền 150.000.000 đồng để mua chiếc xe SH150i, hẹn ngày 15/6/2018 sẽ trả”, H tính lãi suất của 17 ngày (từ ngày 30/5/2018 đến ngày 15/6/2018) là 12% tương đương số tiền 18.000.000 đồng. Ngày 30/5/2018, H chuyển khoản cho chị L số tiền 132.000.000 đồng từ số tài khoản của H (Ngân hàng M) đến số tài khoản của chị L (Ngân hàng B), ghi nội dung “A Tuyen ck Lien”, H đã cắt lãi trước số tiền 18.000.000 đồng. Như vậy lãi suất của khoản vay này là 1.058.823/1 ngày (tương ứng lãi suất phải trả là: 1.058.823 đồng x 365 ngày/132.000.000 đồng x 100% = 292,78%/1 năm) gấp 14,63 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Khoản vay này chị L và H không nhớ đã trả tiền gốc chưa (Sao kê tài khoản ngân hàng không có khoản tiền gốc tương ứng chị L chuyển trả cho H). Số tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự không quá 20%/1 năm, tương đương số tiền khoản vay là 132.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 17 ngày = 1.229.589 đồng. Số tiền thu lời bất chính là 18.000.000 đồng – 1.229.589 đồng = 16.770.411 đồng.
Như vậy, tổng số tiền Hoàng Thị H thu lợi bất chính là 90.426.581 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, H khai từ cuối năm 2017 đến cuối năm 2018, khi chị L đặt vấn đề vay nhiều khoản tiền để đầu tư bảo hiểm thì H đã đồng ý. Sau đó, do không đủ tiền cho vay nên H đã nói với anh Lê Viết T1, chị Trịnh Thu H2 và anh Đỗ Lê Q về việc chị L muốn vay tiền trả lãi suất cao, nếu đồng ý chuyển tiền cho H để cho chị L vay thì H sẽ trả cho T1 và H2 với lãi suất là 1.500 đồng/1 triệu/1 ngày; trả cho Q với lãi suất là 2.000 đồng/1 triệu/1 ngày. H sẽ chịu trách nhiệm về khoản tiền cho chị L vay, H2 và Q đồng ý nhận tiền lãi suất nêu trên, còn T1 cho H phần lãi suất đó. Tổng số tiền gốc H đã cho chị L vay là khoảng 8.000.000.000 đồng (trong đó hình thức chuyển khoản là 5.400.000.000 đồng, hình thức chuyển tiền mặt là 2.600.000.000 đồng). Tổng số tiền chị L đã chuyển qua tài khoản Ngân hàng trả cho H (gồm tiền gốc và tiền lãi) là khoảng hơn 3.000.000.000 đồng. Số tiền gốc chị L chưa trả cho H là khoảng 4.766.175.000 đồng (trong đó tiền gốc chị L chưa trả thì của anh Đỗ Lê Q là 1.050.000.000 đồng, của chị Trịnh Thu H2 là 827.000.000 đồng, của anh Lê Viết T1 là 1.835.000.000 đồng, của H là 1.054.175.000 đồng). Lãi suất vay H với chị L thỏa thuận bằng miệng, không có giấy tờ và tính theo từng giai đoạn: Giai đoạn 1: Từ cuối năm 2017 đến tháng 02/2018, H cho chị L vay tiền không tính lãi suất mà tùy từng hợp đồng làm ăn kinh doanh bảo hiểm chị L kiếm được, khi trả tiền gốc chị L sẽ cảm ơn H. Giai đoạn 2: Từ tháng 02/2018 đến tháng 03/2018, H cho chị L vay tiền với lãi suất thỏa thuận là 2.000đ/1 triệu/1 ngày. Giai đoạn 3: Từ tháng 03/2018 đến tháng 05/2018, H cho chị L vay tiền với lãi suất thỏa thuận là 3.000đ/1 triệu/1 ngày. Giai đoạn 4: Từ tháng 05/2018 đến tháng 07/2018, H cho chị L vay tiền với lãi suất thỏa thuận là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Ban đầu chị L trả tiền lãi và trả tiền gốc cho H đầy đủ, đúng hạn. Tuy nhiên, đến tháng 8/2018, chị L không trả được tiền lãi và tiền gốc đúng hạn nên H phải tự bỏ tiền của mình để trả tiền lãi cho anh Q và chị H2. Từ tháng 11/2018, do chị L không trả được tiền gốc và tiền lãi nên H và T1 đến gặp chị L để đòi tiền thì chị L xin khất nợ. T1 và H yêu cầu chị L phải viết giấy cam kết trả nợ cho từng người. Lúc này, H đã thống kê chị L còn nợ T1 số tiền 3.385.000.000 đồng (thực tế số tiền này là của T1 và của H). Chị L nợ Q số tiền 1.050.000.000 đồng, chị L nợ Hằng số tiền 827.000.000 đồng và kèm theo các bản cam kết trả nợ sau đó. Nhưng chị L khất nợ nhiều lần, không trả tiền cho H theo giấy cam kết. Từ đó, H bức xúc và đã nhiều lần gọi điện đe dọa, chửi bới chị L.
Ngày 12/02/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố H đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Thị H (địa chỉ: P, Chung cư C, ngõ A H, phường C, quận N, Hà Nội) thu giữ 112 giấy tờ các loại (trong đó có 13 giấy H chuyển tiền cho chị L tại ngân hàng và 99 giấy tờ chị L viết vay với nội dung: Chị L vay tiền của H3 Hằng/hoặc Đỗ Lê Q và những giấy chuyển tiền vào ngân hàng, gồm 13 giấy đứng tên người cho vay là Hoàng Thị H; 53 giấy viết đứng tên người cho vay là Lê Viết T1; 33 giấy viết tay đứng tên người cho vay là Trịnh Thu H2, trong đó có 11 giấy biên nhận của 11 khoản tiền H cho chị L vay lãi nặng như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số 7930/KL-KTHS ngày 31/01/2023 và số 7931, 7932, 7933, 7934/KL-KTHS ngày 28/02/2023 của V - Bộ C, kết luận:
Chữ viết phần nội dung; chữ ký, chữ viết đứng tên Cao Thị Thùy L trên các mẫu cần giám định (22 giấy biên nhận tiền) so với chữ ký, chữ viết của Cao Thị Thùy L trên mẫu so sánh (bản tường trình của Cao Thị Thùy Liên ngày 18/12/2019) do cùng một người ký, viết ra.
Chữ viết trong khung màu đỏ trên mẫu cần giám định (giấy biên nhận tiền ngày 16/1/2018, 13/1/2018, 22/1/2018, 19/1/2018, 24/1/2018) so với chữ viết của Cao Thị Thùy L trên mẫu so sánh (bản tường trình của Cao Thị Thùy L ngày 21/2/2020) không phải do cùng một người viết ra.
Chữ ký, chữ viết đứng tên Cao Thị Thùy L trên các mẫu cần giám định (22 giấy biên nhận tiền), trừ chữ viết trong khung màu đỏ, so với chữ ký, chữ viết của Cao Thị Thùy L trên mẫu so sánh (bản tường trình của Cao Thị Thùy Liên ngày 18/12/2019) do cùng một người ký, viết ra.
Chữ viết phần nội dung và chữ ký, chữ viết đứng tên Cao Thị Thùy L trên các mẫu cần giám định (22 giấy biên nhận tiền) so với chữ ký, chữ viết của Cao Thị Thùy L trên mẫu so sánh (bản tường trình của Cao Thị Thùy Liên ngày 13/5/2020) do cùng một người ký, viết ra.
Chữ viết nội dung, chữ ký dưới mục “Ng nhận” trên mẫu cần giám định (giấy biên nhận tiền ngày 10/3/2018); chữ viết nội dung, chữ ký, chữ viết dưới mục “Người nhận” mang tên Cao Thị Thùy L trên các mẫu cần giám định (21 giấy biên nhận tiền) từ các số “001085012339” ở dòng chữ viết thứ 7 tính từ trên xuống trên mẫu cần giám định (giấy biên nhận tiền ngày 3/9/2018) so với chữ viết, chữ ký mang tên Cao Thị Thùy L trên các mẫu so sánh (bản tường trình ngày 30/5/2020) do cùng một người viết, ký ra.
Chữ viết phần nội dung, chữ ký, chữ viết đứng tên Cao Thị Thùy L trên các mẫu cần giám định (11 giấy biên nhận tiền) so với chữ ký, chữ viết của Cao Thị Thùy L trên mẫu so sánh (bản tường trình của Cao Thị Thùy Liên ngày 5/7/2022) do cùng một người viết, ký ra.
Ngoài ra còn nhiều khoản vay khác chia làm rất nhiều lần nhưng cả chị L và H đều không nhớ cụ thể được từng lần vay, từng lần trả lãi suất như thế nào, hoặc số tiền trả cụ thể là bao nhiêu do có rất nhiều lần chuyển tiền viết giấy cộng lại hoặc viết giấy lại. Hiện H chỉ nhớ chị L còn nợ lại số tiền là khoảng 3,8 tỷ đồng nhưng giữa H và chị L đều không thống nhất được khoản tiền đã vay và còn nợ lại.
Do chị L không trả được tiền lãi và tiền gốc cho H, nên khoảng tháng 04/2019, H nói với em trai mình là Hoàng Văn L2 (SN: 1987; Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn F, xã C, huyện T, Hải Phòng) biết việc H cho chị L vay số tiền 3,8 tỷ đồng đến hẹn chưa trả tiền và nhờ L2 đi cùng H tìm gặp chị L để ép chị L phải trả tiền cho H. L2 đồng ý và rủ bạn là Phạm Nhật T3 (SN: 1987; HKTT: Thôn N, xã C, huyện T, Hải Phòng) đi xe khách từ Hải Phòng đến nhà H tại Chung cư C, C N, Cầu D, quận N, Hà Nội. Tại đây, H nói cho L2 và T3 biết việc chị L đang nợ số tiền 3,8 tỷ đồng nhưng không trả. Sau đó H đưa L2, T3 và anh Lê Viết T1 đến nhà chị L tại phòng C tòa nhà A, đường P, C, B, Hà Nội để đòi số tiền 3,8 tỷ đồng, nhưng do chị L không trả tiền nên hai bên có lời qua tiếng lại, sau đó H cùng mọi người đi về, L2 và T3 cũng đi về Hải Phòng.
Khoảng 02 ngày sau, H gọi điện cho L2 nói việc chị L hẹn H ra nói chuyện trả tiền, H nhờ L2 lên Hà Nội để đi cùng. L2 đồng ý và tiếp tục rủ T3 lên Hà Nội để đi cùng H gặp chị L đòi tiền, tuy nhiên chị L vẫn không trả. Sau đó, H cho L2 số điện thoại của chị L. L2 gọi điện và tìm gặp chị L yêu cầu chị L phải trả tiền nhưng chị L không đồng ý. Một thời gian sau, H gọi điện thoại cho L2 nói chị L đã gặp H và anh T1 để cam kết trả nợ nhưng sau đó chị L không thực hiện theo cam kết nên H rất bức xúc. Khoảng tháng 10/2019, L2 đi cùng chồng của H là anh Lê Văn D (SN: 1984; HKTT: Thôn F, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa) bằng xe máy đến cổng công ty nơi làm việc của chị L (tại đường T, Cầu G, Hà Nội) mục đích tìm gặp chị L đòi tiền nhưng chị L không trả và lấy điện thoại ra quay lại. L2 bức xúc định đánh chị L nhưng được anh D can ngăn, sau đó cả 2 đi về.
Sau đó, do chị L chuyển nhà nên trưa ngày 08/11/2019, L2 và T3 đi xe khách từ Hải Phòng lên Hà Nội, T3 mượn xe máy Ariblade màu đen BKS: 16P2-6684 của em trai anh D và chở L2 đến cổng công ty của chị L tại phố T tìm gặp chị L để bám theo sau xem chị L đang ở đâu. Khi thấy chị L đi xe máy một mình từ công ty về thì T3, L2 bám theo sau. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi chị L về đến hầm chung cư CT7, khu đô thị D, phường D, quận H, Hà Nội thì T3 và L2 cũng đi xuống hầm chung cư. Chị L vừa dựng xe tại vị trí giữa cột D20 và cột D21 của hầm chung cư thì L2, T3 cũng dựng xe bên cạnh, do bức xúc về việc chị L không trả tiền cho H và anh T1 nên L2 chửi chị L “ĐM mày vay tiền người ta mà không trả à, gọi điện thoại thì không nghe, cố tình trốn bọn tao”, chị L nói “tao không nợ ai cả”, L2 nói “mày nhận nợ anh T1 chị H rồi giờ lại nói không nợ là sao”. Đồng thời, L2 dùng chân, tay đánh vào người chị L, chị L túm cổ áo L2 giằng co khiến L2 bị rách cổ áo. Sau đó, T3 chở L2 đi về và trả xe máy cho anh D rồi cả hai bắt xe khách về Hải Phòng. Đến ngày 15/11/2019, chị L đã viết đơn tố giác gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H về việc bị L2 và T3 đánh và đề nghị được đi giám định thương tích. Ngày 06/12/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích của chị Cao Thị Thùy L bị đánh ngày 08/11/2019. Ngày 11/3/2020, Trung tâm Pháp y Thành phố H đã có bản Kết luận giám định pháp y thương tích số 199/TTPY, kết luận tại thời điểm giám định: Các chạm thương phần mềm vùng đầu mặt, lưng...không tổn thương xương, không ảnh hưởng chức năng: Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 không có chương mục nào quy định cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe; Nhiều khả năng các chạm thương do vật tày gây nên.
Do chị L vẫn chưa trả tiền nên ngày 15/01/2020, H gọi điện yêu cầu chị L phải có kế hoạch trả nợ cho H và T1. Do lo sợ nên ngày 17/01/2020, chị L đã viết giấy cam kết với nội dung sẽ trả trước cho T1 số tiền 300 triệu đồng vào ngày 25/02/2020 và trả trước cho Hằng số tiền 200 triệu đồng vào ngày 10/3/2020 rồi đưa cho H giữ. Sau khi bị đánh ngày 08/11/2019 và sau khi viết 2 giấy cam kết trả tiền cho H vào ngày 17/01/2020 thì chị L chưa trả cho H khoản tiền nào.
Đối với hành vi Hoàng Văn L2 và Phạm Nhật T3 đánh chị Cao Thị Thùy L để đòi nợ số tiền 3,8 tỷ đồng giúp cho Hoàng Thị H vào ngày 08/11/2019 tại hầm B1 khu chung cư D, H, Hà Nội, nguyên nhân là do L2 bức xúc việc chị L nợ tiền chị gái mình số tiền lớn dù đã đến nhà đòi tiền nhiều lần nhưng chị L cố tình không trả, đồng thời chị L chuyển nhà và cắt liên lạc, khi L2 và T3 gặp được chị L thì chị L thách thức và chối không nhận nợ dẫn đến việc L2 và T3 chửi và đánh chị L nên giữa hai bên có xảy ra xô xát, L2 bị chị L xé rách áo và sau đó L2 và T3 lên xe bỏ đi luôn, không thể hiện mục đích cướp tài sản hay cưỡng đoạt tài sản của chị L nên cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với thương tích của chị Cao Thị Thùy L bị đánh ngày 08/11/2019, do không có tỷ lệ thương tích nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận N không có căn cứ để xem xét xử lý L2 và T3 về hành vi cố ý gây thương tích.
Đối với anh Lê Viết T1, anh Đỗ Lê Q và chị Trịnh Thu H2 cho H vay tiền để lấy lãi. Quá trình điều tra xác định, anh T1 cho H vay tiền không lấy lãi, anh Q và chị H2 cho H vay tiền với lãi suất không vượt mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận N không có căn cứ để xem xét xử lý về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Lời khai nhận tội của Hoàng Thị H phù hợp với lời khai của chị Cao Thị Thùy L, phù hợp lời khai người liên quan, phù hợp với kết quả sao kê tài khoản ngân hàng, giấy biên nhận tiền đã thu giữ và phù hợp tài liệu điều tra khác, có đủ cơ sở xác định Hoàng Thị H đã cho chị Cao Thị Thùy L vay nặng lãi với tổng số tiền của 11 khoản vay là 855.000.000 đồng, với lãi suất từ 219%/năm đến 456,2%/năm (gấp từ 14,55 đến 22,81 lần lãi suất cao nhất được quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự).
Bản cáo trạng số 405/CT-VKS ngày 28/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố Hoàng Thị H về tội “Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận hành vi do mình thực hiện là phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa phát biểu: Viện kiểm sát luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng Điều 201 khoản 1, khoản 3; Điều 51 khoản 1 điểm s,i; khoản 2 Điều 51; Điều 47, Điều 36 BLHS, Điều 106 BLTTHS và Điều 3, Điều 5, Điều 6 của Nghị Quyết 01 ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao đề nghị HĐXX tuyên mức hình phạt bị cáo Hoàng Thị H với mức án từ 12-15 tháng cải tạo không giam giữ. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 855.000.000 đồng mà H sử dụng vào việc phạm tội (do chị L đã trả cho bị cáo 349.000.000 đồng, chưa trả cho bị cáo 506.000.000 đồng) nên buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 349.000.000 đồng, buộc chị L phải truy nộp số tiền 506.000.000 đồng. Buộc bị cáo phải trả cho người vay (chị L) số tiền thu lợi bất chính: 27.300.000 đồng, lãi suất ngoài 20% mà bị cáo đã thu trong 6 khoản vay đầu. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.873.419 đồng, lãi suất trong hạn mức 20% mà bị cáo đã thu.
Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tôi của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ được và các tài liệu có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 28/02/2018 đến ngày 30/10/2018, tại Phòng 1904 Chung cư M N, phường C, quận N, Hà Nội. Hoàng Thị H đã cho chị Cao Thị Thùy L vay nặng lãi 11 khoản vay, với tổng số tiền cho vay là 855.000.000 đồng, H đã cắt lãi trước của 11 khoản vay trên với số tiền là 97.300.000 đồng, tương đương cho vay với lãi suất từ 219%/năm đến 456,2%/năm (gấp từ 14,55 đến 22,81 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự). Tổng số tiền H đã thu lợi bất chính là 90.426.581 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào trong khung hình phạt nên buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1, Điều 201 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ nên cần được xét xử nghiêm minh theo quy định.
Xét nhân thân bị cáo, tính chất và mức độ phạm tội, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng một mức phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và áp dụng hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo khai báo thành khẩn. Bị cáo H nhân thân chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy áp dụng mức hình phạt, phạt bị cáo phải cải tạo tại địa phương cũng đủ cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung.
Ngoài hình phạt chính cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Cụ thể: Phạt bổ sung mỗi bị cáo 50.000.000đ.
Về dân sự: Áp dụng Điều 5 Nghị Quyết 01 ngày 20/12/2021 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao:
Buộc bị cáo phải trả cho người vay chị Cao Thị Thùy L số tiền 27.300.000 đồng, do thu vượt quá mức lãi suất ngoài 20% mà bị cáo đã thu trong 6 khoản vay đầu.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.873.419 đồng, lãi suất trong hạn mức 20% mà bị cáo đã thu.
Về vật chứng: Số tiền 855.000.000 đồng dùng vào phạm tội áp dụng Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phánToà án Tối cao cho tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Do chị Cao Thị Thùy L đã trả cho bị cáo Hoàng Thị H 349.000.000 đồng, chưa trả cho bị cáo 506.000.000 đồng nên buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 349.000.000 đồng; buộc chị Cao Thị Thùy L phải truy nộp số tiền 506.000.000 đồng.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng các Điều 201 khoản 1, khoản 3; Điều 51 khoản 1 điểm s,i; khoản 2 Điều 51; Điều 47, Điều 36 BLHS;
- Xử phạt bị cáo Hoàng Thị H 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho chính quyền UBND phường C, quận N, Hà Nội theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời hạn chấp hành cải tạo không giam giữ.
Phạt bổ sung bị cáo Hoàng Thị H số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136; Khoản 1, khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Về xử lý vật chứng, dân sự: Áp dụng Điều 3, Điều 5, Điều 6 Nghị Quyết 01 ngày 20/12/2021 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao:
- - Buộc các bị cáo và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án phải nộp sung vào ngân sách Nhà Nước số tiền, cụ thể như sau:
- + Bị cáo Hoàng Thị H phải truy nộp tổng số tiền 349.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
- + Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Cao Thị Thùy L phải truy nộp số tiền 506.000.000 đồng đồng để sung công quỹ Nhà nước.
- - Buộc bị cáo phải trả cho người vay chị Cao Thị Thùy L số tiền 27.300.000 đồng, do thu vượt quá mức lãi suất ngoài 20% mà bị cáo đã thu trong 6 khoản vay đầu.
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.873.419 đồng, lãi suất trong hạn mức 20% mà bị cáo đã thu.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm.
Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Quang Long |
Bản án số 377/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 377/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hòa
