|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 377/2024/HNGĐ-ST Ngày 24-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh
Ông Đặng Anh Đoan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:
Ông Lưu Tiến Dũng– Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2024/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 02 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 293/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phan Thị N, sinh năm 1985, nơi cư trú: tổ A, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
Chỗ ở hiện nay: số E, tổ B, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang
Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1983, nơi cư trú: tổ A, ấp H, xã P, huyện P tỉnh An Giang.
(bà N có đơn xin vắng mặt, ông T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn trình bày:
Cả hai do tự tìm hiểu quen biết nhau được cha mẹ chấp thuận chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2005, không tổ chức lễ cưới, nhưng có đăng ký kết hôn theo quy định tại UBND xã P, huyện P, tỉnh An Giang, sau khi kết hôn sống chung gia đình chồng, quá trình chung sống không hạnh phúc, ông T thường xuyên ăn nhậu không lo cho vợ con, trong cuộc sống hàng ngày thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống. Đến năm 2020 thấy cuộc sống không thể tiếp tục kéo dài, nên bà N đi làm công ty ở Bình Dương, ông T thì ở quê làm nghề thợ hồ, mỗi người có cuộc sống riêng không ai quan tâm đến ai, vợ chồng ly thân từ cuối năm 2020 cho đến nay. Thời gian gần đây ông T thường gọi điện chửi mắng, hăm he, đe dọa làm ảnh hưởng đến cuộc sống tinh thần của bà N nên bà N yêu cầu ly hôn với ông Phạm Văn T.
+ Vợ chồng: có 02 con chung tên Phạm Quốc A, sinh ngày 23/01/2008 và Phan Văn Quốc K, sinh ngày 16/9/2012. Bà N có yêu cầu nuôi con chung tên Quốc K nhưng thời gian gần đây ông T đến thăm con rồi bắt con về nuôi không cho bà N đến thăm con. Nhằm giữ ổn định tâm lý cho các con, bà N đồng ý giao 02 con chung cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ phải thu phải trả: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do cho thấy bị đơn không chấp hành đúng quy định Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ly hôn với ông T. Con chung tiếp tục giao ông T, bà N không cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng:
- Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
- Về nội dung giải quyết vụ án:
- Về hôn nhân: cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 09/3/2017 do Ủy ban nhân dân xã P cấp là hôn nhân hợp pháp. Bà N cho rằng vợ chồng mâu thuẫn do rạn nứt tình cảm, không còn tình cảm và đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Quá trình tố tụng, ông T cũng không thể hiện ý kiến và đến hoà giải. Xét thấy, hôn nhân của ông bà lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu ly hôn là có căn cứ.
- Về con chung: con chung hiện đang sống với ông T, để đảm bảo môi trường phát triển của cháu tiếp tục giao con chung cho ông T nuôi dưỡng, ông T không yêu cầu cấp dưỡng, nên bà N không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: bà N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: bà N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 9; Điều 51, 53, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147 khoản 1 Điều 273, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị N
- Về hôn nhân gia đình: bà Phan Thị N được ly hôn với ông Phạm Văn T.
- Về con chung: Giao con chung tên Phạm Quốc A, sinh ngày 23/01/2008 và Phan Văn Quốc K, sinh ngày 16/9/2012 cho ông Phạm Văn T được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến thành niên hoặc tự lập được. bà Phan Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định
- Về tài sản chung: Không
- Về nợ: Ghi nhận bà N trình bày không có nợ chung, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
- Về án phí: bà N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006613 ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Ông Phạm Văn T không phải chịu án phí.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Lâm Bảo Ngọc |
Bản án số 377/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 377/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Nhi xin ly hôn anh Thắng
