|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 377/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23-5-2024
V/v "Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Quang Cảnh
- Ông Lê Ngọc Thanh
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 918/2022/HNST ngày 03 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 257/2024/QĐXXST-HN ngày 28 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 294/2024/QÐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1974
- Bị đơn: Ông Lương Nguyên K, sinh năm 1975
Địa chỉ: B V, phường P, quận T, Tp .
Nơi cư trú cuối cùng: 268 V, phường P, quận T, Tp.
(bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông K vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 24 tháng 8 năm 2022, bản tự khai và tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Ngọc T và ông Lương Nguyên K tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn ngày 15/10/2003 tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận T (nay là phường P, quận T), Thành Phố Hồ Chí Minh vào.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2012 thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do cả hai có quá nhiều khác biệt, bất đồng về tính cách, lối sống, quan điểm không hòa hợp, không có tiếng nói chung, từ đó tạo ra khoảng cách, không còn quan tâm đến nhau nhưng vì muốn duy trì hạnh phúc gia đình để nuôi dạy các con nên bà đã cố gắng chịu đựng và dung hòa để xây dựng một gia đình hạnh phúc.
Đến năm 2017, ông K tự bỏ nhà đi không một lời nói hay tin nhắn gì, bỏ mặc bà một mình nuôi con và chăm lo gia đình đến hiện tại nên những mâu thuẫn cãi vã không thể càng không thể giải quyết, đã nhiều lần bà tìm cách liên lại đề nghị nói chuyện để hàn gắn tình cảm nhưng không được. Hiện ông K đã bị tuyên bố mất tích theo quyết định số 697/2023/QÐST-DS, ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú. Nay bà đề nghị được ly hôn với ông K.
- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Lương Hoàng Nguyên K1, sinh ngày 01/01/2005 và Lương Hoàng Hương T1, sinh ngày 11/09/2012. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con chung là Hương T1 và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
Riêng con chung Nguyên Khang đã trưởng thành, phát triển bình thường, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ dân sự: Bà T xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung.
Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho ông Lương Nguyên K theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông K không đến Tòa án. Do đó, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn ông Lương Nguyên K vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến với nội dung chính như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng về thẩm quyền thụ lý vụ án; xác định quan hệ tranh chấp; xác định tư cách pháp lý; thu thập chứng cứ; thời gian tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự; Thời hạn chuẩn bị xét xử; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 268/2003, quyển số 02, ngày 15 tháng 10 năm 2003 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận T (nay là phường P, quận T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp, xác định quan hệ giữa bà Huỳnh Ngọc T và ông Lương Nguyên K là quan hệ hôn nhân được pháp luật công nhận. Nay bà T yêu cầu ly hôn, ông K có nơi cư trú cuối cùng tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho ông Lương Nguyên K theo qui định tại Điều 177, 178, 179 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
Tại phiên tòa ông Lương Nguyên K không có mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết theo quy định pháp luật. Ông Lương Nguyên K phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Huỳnh Ngọc T yêu cầu ly hôn với ông Lương Nguyên K.
Căn cứ vào bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà Huỳnh Ngọc T và ông Lương Nguyên K thực tế đã có mâu thuẫn về tính cách, lối sống. Mặt khác, căn cứ vào quyết định đã có hiệu lực thi hành số 697/2023/QĐST-DS, ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú tuyên bố ông Lương Nguyên K mất tích. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.
[2.2] Về con chung:
Bà T xác nhận vợ chồng có hai con chung Lương Hoàng Nguyên K1, sinh ngày 01/01/2005 và Lương Hoàng Hương T1, sinh ngày 11/09/2012. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con chung là Hương T1 và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con cho ai nuôi phải dựa vào quyền lợi và nguyện vọng của trẻ, yêu cầu nuôi con của bà T là phù hợp với nguyện vọng của trẻ T1, đồng thời hiện nay trẻ đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng nên căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T.
Con chung Nguyên Khang đã trưởng thành, phát triển bình thường, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông K vắng mặt và không trình bày ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà T không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ của ông K về việc cấp dưỡng nuôi con.
[2.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ dân sự khác: Bà T xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Bà Huỳnh Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; khoản 1 Điều 147; Điều 171; Điều 177; Điều 179; Điều 196; Điều 208; Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 233; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc T
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Ngọc T được ly hôn với ông Lương Nguyên K.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Huỳnh Ngọc T và ông Lương Nguyên K (theo Giấy chứng nhận kết số 268/2003, quyển số 02, ngày 15 tháng 10 năm 2003 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận T (nay là phường P, quận T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp) chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Bà Huỳnh Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lương Hoàng Hương T1, sinh ngày 11/09/2012. Tạm hoãn nghĩa vụ của ông K về việc cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu.
* Con chung Lương Hoàng Nguyên K1, sinh ngày 01/01/2005 đã trưởng thành, phát triển bình thường, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết.
+ Ông Lương Nguyên K có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức (người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội L), Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ dân sự khác: Bà Huỳnh Ngọc T xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung. Nếu sau này có tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Bà Huỳnh Ngọc T phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0036160 ngày 03 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo
Đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi Tòa tuyên án mà có lý do chính đáng được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6;7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hương Giang |
Bản án số 377/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 377/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
