Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 377/2023/HSST

Ngày: 21/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Anh Thư
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Lành và bà Nguyễn Thị Kim Thu
  • - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Tuyến - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Minh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại Hội trường Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 333/2023/HSST ngày 03/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 366/2023/QĐXXST- HS ngày 04/12/2023 đối với bị cáo:

  • - Họ và tên: Đỗ Cảnh K, sinh ngày 12 tháng 11 năm 2004
  • Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không
  • Hộ khẩu thường trú: Xóm Phú, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Đỗ Văn Ng (Đã chết); Con bà: Dương Thị S, sinh năm 1983; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có.
  • - Tiền án, tiền sự: Không.
  • Nhân thân: + Tại Bản án số 541/2022/HSST ngày 16/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Đỗ Cảnh K 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và “Không tố giác tội phạm” (Tính đến ngày phạm tội Đỗ Cảnh K được 16 tuổi 10 tháng 3 ngày, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng).
  • + Tại Bản án số 24/2023/HSST ngày 20/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Đỗ Cảnh K 26 tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” (Tính đến ngày phạm tội Đỗ Cảnh K được 16 tuổi 10 tháng 4 ngày, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng).
  • Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Lâm, Cục C10, Bộ Công an.(Có mặt).

Bị hại:

  1. Đỗ Văn C (Sinh năm 2001, trú tại: xóm Phú, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên). (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn N (Nguyên), sinh năm 2003; HKTT: Xóm Khuân, xã Phúc Trìu, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người làm chứng:

Bà Đồng Thị Thỉnh, sinh năm 1942; Địa chỉ: Xóm Phú, xã Thịnh Đức, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 23/7/2023, do không có tiền tiêu xài nên Đỗ Cảnh K nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Air Blade, màu xám bạc đen, BKS: 20B2-386.79 của anh trai là Đỗ Văn C (Sinh năm 2001, trú tại: xóm Phú, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên). Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 23/7/2023, K đi bộ một mình về nhà tại xóm Phú, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên, lúc này anh C và gia đình đã khóa cửa cổng và đi ngủ. K trèo tường vào nhà, đi đến giường kê tại phòng khách lấy chìa khóa để mở cửa nhà bếp và mở cổng. Sau đó, K đi vào nhà bếp dắt xe mô tô của anh C ra ngoài đường rồi cầm khóa cổng và khóa nhà bếp để trên bàn ăn trong nhà bếp. K điều khiển xe mô tô của anh C đến khu vực thành phố Phổ yên, tỉnh Thái Nguyên để tìm nơi tiêu thụ. Trên đường đi, K mở cốp xe mô tô ra kiểm tra thấy có 01 ví da màu đen, trong ví có giấy tờ tùy thân và đăng ký xe mô tô của anh C. Khoảng 04 giờ 00 phút cùng ngày, K có nhắn tin cho anh C là K đã lấy trộm xe của anh C đi cầm cố. Khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày, K điều khiển xe mô tô đến cửa hàng "Anh Cóc" thuộc xóm Mãn Chiêm, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. K gặp và bán xe mô tô trên cho anh Nguyễn Văn N (Nguyên) tại: Xóm Khuân, xã Phúc Trìu, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên với giá 20.000.000 đồng. K dùng số tiền trên để tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, anh Đỗ Văn C đã đến Công an xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên để trình báo sự việc.

Tại Kết luận định giá tài sản số 190/KL-KTHS ngày 11/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Nguyên kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu xám bạc đen, BKS: 20B-386.79, số máy: KF41E0101678, số khung: RLHKLF4106LZ100133, giá trị thiệt hại của tài sản là: 25.000.000 đồng; 01 ví da, màu đen, kích thước 23,5x9,5cm: không có cơ sở xác định giá trị của tài sản này. Tổng giá trị thiệt hại của tài sản là: 25.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Cảnh K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Lời khai nhận của K phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh, biên bản nhận dạng, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu xám bạc đen, BKS: 20B2-386.79, số máy: KF41E0101678, số khung: RLHKLF4106LZ100133; 01 ví da, màu đen, kích thước 23,5x9,5cm; 01 khóa nhãn hiệu Việt – Tiệp Look kích thước (5x5)cm; 01 khóa nhãn hiệu Việt – Tiệp Look kích thước (3x3)cm; 03 chìa khóa là chia của 02 khóa trên. Quá trình điều tra xác định, những tài sản trên là của anh Đỗ Văn C. Hiện, những tài sản trên đã được trả lại cho anh C quản lý, sử dụng.
  • - Phần dân sự: Anh Đỗ Văn C không có yêu cầu đề nghị gì. Anh Nguyễn Văn N đề nghị K trả lại số tiền 13.000.000 đồng.

Tại phiên toà bị cáo Đỗ Cảnh K khai nhận toàn bộ hành vi đúng như lời khai tại Cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Cảnh K phạm tội “Trộm cắp tài sản", áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 56 Bộ luật hình sự, xử phạt Đỗ Cảnh K từ 15 đến 18 tháng tù. Tổng hợp các bản án đã có hiệu lực pháp luật buộc bị cáo phải chấp hành chung cho các bản án theo quy định pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo

  • * Về vật chứng vụ án: Hiện tài sản đã trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì đối với bị cáo.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu đề nghị gì đối với bị cáo. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn N yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 13.000.000 đồng.
  • * Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Trong phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu được và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 23/7/2023, tại xóm Phú, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên, Đỗ Cảnh K đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu xám bạc đen, BKS: 20B2-386.79, xe đã qua sử dụng của anh Đỗ Văn C trị giá 25.000.000 đồng. Sau đó, K bán xe mô tô trên cho anh Nguyễn Văn N với giá 20.000.000 đồng. Hiện xe mô tô trên đã được thu hồi và trả lại cho anh Đỗ Văn C quản lý, sử dụng. Anh C không có yêu cầu, đề nghị gì. Anh N yêu cầu K trả lại số tiền 13.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3]. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

Nội dung Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Do đó bị cáo phải chịu hình phạt mà Điều luật đã quy định.

[4] . Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng:

  • - Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, tình hình trật tự tại địa phương.
  • Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo có nhân thân rất xấu: + Tại Bản án số 541/2022/HSST ngày 16/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Đỗ Cảnh K 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và “Không tố giác tội phạm”. Tại Bản án số 24/2023/HSST ngày 20/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Đỗ Cảnh K 26 tháng tù về tội “ Bắt giữ người trái pháp luật, nhưng bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân, trong thời gian thi hành án đối với hai bản án trên, bị cáo lại tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt: Do cần tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền, cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi của mình nên hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện lượng khoan hồng của Nhà nước đối với bị cáo. Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản gì riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[7]. Về vật chứng vụ án: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì khác, nên không xem xét.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn N(Nguyên) đã mua của bị cáo chiếc xe mô tô bị cáo trộm cắp được với giá 20.000.000đồng, nay anh N chỉ yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 13.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo nhất trí bồi thường cho anh N số tiền trên nên cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho anh N số tiền 13.000.000đồng.

[9]. Về các vấn đề khác: Bị cáo khai bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu xám bạc đen, BKS: 20B2-386.79 do bị cáo trộm cắp được cho anh Nguyễn Văn N với giá 20.000.000 đồng. Anh N không biết tài sản trên là do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.

[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

  1. Căn cứ vào : Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự:
  2. Xử phạt Đỗ Cảnh K: 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 12 (mười hai) tháng tù của Bản án số 541/2022/HSST ngày 16/12/2022, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Đỗ Cảnh K về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và “Không tố giác tội phạm”; Hình phạt 26 (hai mươi sáu) tháng tù của Bản án số 24/2023/HSST ngày 20/4/2023, Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Đỗ Cảnh K về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba bản án là 53 (năm mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2022 đến 29/12/2022.
  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  4. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2, Điều 357, 468, 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật dân sự 2015:

    - Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn N số tiền 13.000.000đ(mười ba triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

    Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  5. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án; buộc bị cáo phải nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 650.000đ(Sáu trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Thái Nguyên;
  • - Công an TP. Thái Nguyên;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - THADS TP. Thái Nguyên;
  • - THA phạt tù;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Anh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 377/2023/HSST ngày 21/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 377/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Cảnh K phạm tội Trộm cắp tài sản khoản điều 173
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger