|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 377/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 02 - 2025 V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.
- Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm thụ lý số: 2740/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1782/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 935/2025/QĐST-DS ngày 14 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1989.
- Bị đơn: Ông Hoàng Văn H1, sinh năm: 1988.
Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, bà H có mặt.
Địa chỉ: 1 Đường A, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, bà H1 có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 30/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Năm 2020, bà H và ông H1 chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 12/2020 do Ủy ban nhân dân thị trấn E, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/02/2020. Việc chung sống với nhau là hoàn toàn tự nguyện.
Trong thời gian chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, dù đã nhiều lần cùng nói chuyện nhưng không giải quyết được nên ông bà đã sống ly thân nhiều năm nay. Từ sau khi kết hôn, ông H1 và bà H mỗi người sống một nơi, một mình bà H chăm sóc và nuôi con từ khi sinh ra, ông H1 không có trách nhiệm với gia đình, con cái. Bên cạnh đó, bà H phát hiện ông H1 có quan hệ, nhắn tin qua lại với người phụ nữ khác. Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không còn hạnh phúc, không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông bà được ly hôn.
Về con chung: Bà H và ông H1 có 01 con chung là Hoàng Nhật M, sinh ngày 19/9/2021. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu ông H1 cấp dưỡng cho con 3.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Hoàng Văn H1 trình bày:
Ông H1 xác nhận lời trình bày của bà H về thời điểm chung sống, quan hệ hôn nhân. Ông H1 cho rằng vợ chồng có một số mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, vì tính chất công việc nên mỗi người phải sống mỗi nơi, tuy nhiên ông không đồng ý ly hôn vì muốn giữ hạnh phúc gia đình cho con và hai bên cũng chưa giải quyết, thỏa thuận được vấn đề tài sản. Tại phiên tòa, ông H1 mong muốn được đoàn tụ gia đình và sẽ đồng ý chuyển chỗ ở về với bà H để cùng chăm lo cho gia đình, con chung.
Về con chung: Ông không H1 đồng ý việc giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi. Nếu Tòa án giao con cho bà H trực tiếp nuôi thì ông H1 đồng ý mức cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng. Trường hợp ông H1 được quyền nuôi con thì ông cũng yêu cầu bà H cấp dưỡng cho con là 3.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn, giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi, bị đơn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con 3.000.000 đồng/tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Bà Nguyễn Thị Thu H yêu cầu ly hôn với ông Hoàng Văn H1 nên căn cứ quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp ly hôn”. Ông H1 cư trú tại thành phố T. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H có mặt; bị đơn ông Hoàng Văn H1 có mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định bà H và ông H1 tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn, thể hiện tại bản chính Giấy chứng nhận kết hôn số 12/2020 do Ủy ban nhân dân thị trấn E, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/02/2020. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông H1 là hôn nhân hợp pháp.
[3.2] Về yêu cầu ly hôn của bà H: Từ ý kiến trình bày của các bên đương sự, Hội đồng xét xử nhận định mâu thuẫn gia đình giữa bà H và ông H1 là trầm trọng, ông bà đã không chung sống với nhau nhiều năm. Tại phiên tòa, ông H1 mong muốn được đoàn tụ gia đình nhưng bà H vẫn kiên quyết xin ly hôn, cho thấy tình cảm yêu thương và lòng tin của bà H đối với ông H1 không còn.
Xét thấy, hạnh phúc gia đình phải được vun đắp, xây dựng từ cả hai phía, trong khi ông H1 mong muốn được đoàn tụ gia đình nhưng bà H vẫn kiên quyết giữ yêu cầu ly hôn vì cho rằng mâu thuẫn đã kéo dài, hai vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm, nếu kéo dài đời sống hôn nhân sẽ không mang đến hạnh phúc. Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H về việc xin ly hôn với ông H1.
[3.3] Về con chung: Bà H và ông H1 có 01 con chung là Hoàng Nhật M, sinh ngày 19/9/2021. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, ông H1 không đồng ý giao con cho bà H nuôi và yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Bà H xác định con chung từ khi sinh ra đến nay do bà H là người trực tiếp nuôi dưỡng, bà H có chỗ ở, công việc, thu nhập và điều kiện tốt để nuôi con. Về phía ông H1 cho rằng ông cũng có những điều kiện tốt để có thể trực tiếp nuôi con. Xét thấy, con chung từ khi sinh ra do bà H chăm sóc, nuôi dưỡng, hiện nay đang sinh sống ổn định với bà H và điều kiện nuôi dưỡng của bà H cũng đáp ứng cho con chung có cuộc sống tốt. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của con chung nên yêu cầu của bà H về việc được tiếp tục tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật.
[3.4] Về mức cấp dưỡng cho con: Tại phiên tòa, ông H1 đồng ý với mức cấp dưỡng cho con mà bà H yêu cầu là 3.000.000 đồng/tháng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3.5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H và ông H1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Bà H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ông Hoàng Văn H1 phải chịu án phí cấp dưỡng cho con.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Luật Thi hành án dân sự.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với ông Hoàng Văn H1.
- Về con chung: Giao con chung tên Hoàng Nhật M, sinh ngày 19/9/2021 cho bà Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi. Ông Hoàng Văn H1 có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con 3.000.000 (ba triệu) đồng/tháng.
Việc cấp dưỡng được thực hiện kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc phát sinh trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bà Nguyễn Thị Thu H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Hoàng Văn H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định trên thì hàng tháng ông H1 còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự. Mức lãi suất được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự
Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi và giáo dục con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà H và ông H1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00674311 ngày 21/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Ông Hoàng Văn H1 phải chịu án phí cấp dưỡng cho con là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông H1 chưa nộp án phí.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Anh Ngọc |
Bản án số 377/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 377/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Thu H yêu cầu ly hôn đối với ông Hoàng Văn H
