|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 377/2024/HC-PT Ngày 09 - 5 - 2024 V/v Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Huỳnh Thanh Duyên |
| Các Thẩm phán: | Ông Phan Đức Phương |
| Bà Lê Thị Tuyết Trinh |
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà trực tuyến xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 149/2024/TLPT-HC ngày 01 tháng 3 năm 2024.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 37/2023/HC-ST ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1003/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 198/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Trần Hữu T (Có mặt)
Địa chỉ: Số nhà H, đường H, Tổ dân phố C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
- Người bị kiện:
- Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ.
- Uỷ ban nhân dân thành phố Gia Nghĩa
Địa chỉ: Đường B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Ninh Đức T1 – Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ (Theo Văn bản số 02/GUQ-VPĐKĐĐ ngày 08/02/2023) (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Thạch Cảnh T2 – Phó Chủ tịch UBND thành phố G (Theo Văn bản số 114/UBND-VP ngày 01/02/2023) (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu H (vợ ông Trần Hữu T); (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà H, đường H, Tổ dân phố C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Do có kháng cáo của người khởi kiện: Ông Trần Hữu Thành
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/12/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Trần Hữu T trình bày:
Ngày 15/8/2017 ông T làm thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) đối với thửa đất số 1013, tờ bản đồ số 08, diện tích 533m², tọa lạc tại tổ dân phố C, phường N, thị xã G (N là thành phố G), tỉnh Đắk Nông nộp tại Ủy ban nhân dân (UBND) phường N. Ngày 25/01/2018 ông T nhận được thông báo nộp tiền sử dụng đất của Chi cục Thuế thành phố G (Nay là Chi cục thuế khu vực G - Đắk G'long). Ngày 26/01/2018 ông T thực hiện thủ tục nộp thuế và được ghi nợ 351.000.000 đồng tiền sử dụng đất. Ngày 07/5/2018 Chi cục Thuế thành phố G ban hành Công văn số: 1538/CCT-NVDT gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G về việc chuyển hồ sơ vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hồ sơ ông T. Ngày 06/8/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G ban hành Công văn số: 948/CV kết luận hành vi của ông T chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Sau đó, UBND thành phố G vẫn không thực hiện cấp và trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T nên ông T nhiều lần khiếu nại, kiến nghị. Ngày 23/12/2022 Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố G ban hành Thông báo số: 1005/TB- CNVPĐKĐĐ từ chối giải quyết hồ sơ cấp GCNQSDĐ đối với ông T. Do đó, ông Trần Hữu T khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số: 1005/TB- CNVPĐKĐĐ ngày 23/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố G và yêu cầu UBND thành phố G cấp và trả cho ông T GCNQSDĐ theo hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ năm 2017.
Đại diện của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ trình bày:
Ngày 20/12/2022 Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố G nhận được hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ của vợ chồng ông Trần Hữu T và bà Nguyễn Thị Thu H đối với thửa đất số 1013, tờ bản đồ số 08, diện tích 533m², tọa lạc tại tổ dân phố C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Qua kiểm tra hồ sơ của ông T và bà H, thửa đất số 1013 nêu trên đang tranh chấp với bà Nguyễn Thị N, không đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ theo quy định tại Điều 11a Thông tư số: 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 được sửa đổi bổ sung tại khoản 11 Điều 7 Thông tư số: 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ T3.
Ngày 23-12-2022 Chi nhánh Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố G ban hành Thông báo số: 1005/TB-CNVPĐKĐĐ từ chối giải quyết hồ sơ cấp GCNQSDĐ đối với ông T là đúng quy định pháp luật, do đó đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông T đối với Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.
Đại diện UBND thành phố G trình bày:
Ngày 30/01/2018 Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố G nhận được hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ của vợ chồng ông Trần Hữu T và bà Nguyễn Thị Thu H đối với thửa đất số 1013, tờ bản đồ số 08, diện tích 533m², tọa lạc tại tổ dân phố C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Quá trình xem xét hồ sơ về nguồn gốc sử dụng đất liên quan đến việc miễn giảm 50% tiền sử dụng đất chưa có cơ sở nên Phòng T ban hành Công văn số: 51/CV-TNMT ngày 02/03/2018 về việc trả lại hồ sơ của ông T và bà H để UBND phường N xác nhận và khẳng định về nguồn gốc và thời điểm làm nhà trên đất. Ngày 22/3/2018 UBND phường N ban hành Công văn số: 70/CV-UBND-ĐC về việc xác định lại nguồn gốc và thời điểm làm nhà của ông T. Ngày 30/3/2018 Phòng Tài nguyên và Môi trưởng ban hành Công văn số: 82/CV-TNMT về việc đề nghị Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố G chuyển lại thông tin địa chính theo Công văn số: 70/CV-UBND-ĐC của UBND phường N và đề nghị Chi cục thuế thành phố G xác định lại tiền sử dụng đất cho ông T. Ngày 19/4/2018 Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố G ban hành Công văn số: 125/CV-VPĐKĐ về việc hủy phiếu chuyển thông tin địa chính số: 307/PCTTĐC ngày 19/01/2018 và đề nghị Chi cục thuế thành phố G xác định lại nghĩa vụ tài chính đối với ông Trần Hữu T. Ngày 27/4/2018 Phòng T ban hành Công văn số: 1538/CV-TNMT về việc tiếp tục đề nghị Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố G xử lý hồ sơ cấp GCNQSDĐ đối với ông T. Ngày 07/5/2018 Chi cục Thuế thành phố G ban hành Công văn số: 1538/CCT-NVDT gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G về việc chuyển hồ sơ vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hồ sơ ông T. Ngày 06/8/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G ban hành Công văn số: 948/CV kết luận hành vi của ông T chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm và kiến nghị UBND thành phố G chỉ đạo UBND phường N xác định lại nguồn gốc, thời điểm tạo lập nhà và tài sản gắn liền với đất đối với ông T.
Mặt khác, ngày 18/7/2018 ông T có đơn khiếu nại UBND phường N ban hành Công văn số: 70/CV-UBND-ĐC về việc xác định lại nguồn gốc và thời điểm làm nhà của ông T sau năm 2006 là không đúng quy định. Ngày 21/11/2018 Chủ tịch UBND phường N ban hành Quyết định số: 89/QĐ-UBND không chấp nhận khiếu nại của ông T. Ông T khiếu nại lần hai đến Chủ tịch UBND thành phố G. Ngày 07/5/2019 Chủ tịch UBND thành phố G ban hành Quyết định số: 497/QĐ-UBND chấp nhận nội dung khiếu nại của ông T; yêu cầu UBND phường N Hội đồng tư vấn xem xét, giải quyết hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho ông T đảm bảo đúng quy định. Ngày 11/6/2019 UBND phường N ban hành Công văn số: 119/UBND-ĐC xác định lại nguồn gốc sử dụng đất và thời điểm xây dựng nhà của ông T. Đồng thời, quá trình giải quyết hồ sơ cấp GCNQSDĐ của ông T thì phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị N theo Thông báo thụ lý vụ án số: 58/2019/TB-TLVA ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, do đó đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông T đối với UBND thành phố G.
Tại Bản án số 37/2023/HC-ST ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 11a Thông tư số: 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T3 quy định về hồ sơ địa chính được bổ sung tại điểm đ khoản 11 Điều 7 Thông tư số: 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ T3.
Tuyên xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hữu T đối với yêu cầu huỷ Thông báo số: 1005/TB-CNVPĐKĐĐ ngày 23/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố G về việc từ chối giải quyết hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố G cấp và trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T theo hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2017 (Phiếu tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả ngày 18/5/2017);
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 25/12/2023, người khởi kiện ông Trần Hữu T kháng cáo Bản án sơ thẩm đề nghị huỷ toàn bộ Bản án sơ thẩm, giao vụ án về cấp sơ thẩm để xét xử lại theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Ông Trần Hữu T trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, giao vụ án về cấp sơ thẩm để xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật bởi các lý do sau:
- Ông T đã hoàn thành các thủ tục đăng ký cấp GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật nhưng cho tới nay vẫn chưa nhận được kết quả giải quyết hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ.
- Bộ hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ được nộp vào ngày 20/12/2022 mang tên ông T là giả mạo.
- Quá trình giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông vi phạm tố tụng khi chưa thụ lý giải quyết hết yêu cầu khởi kiện của đương sự, không trưng cầu giám định, tuyên án không có căn cứ.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, tuyên huỷ bản án hành chính sơ thẩm. Giao về cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Theo đơn khởi kiện ngày 28/12/2022, ông T khởi kiện yêu cầu hủy Thông báo số 1005, yêu cầu UBND thành phố G cấp và trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1013, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm xác định người bị kiện là Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Nông và UBND thành phố G, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H là đúng theo quy định pháp luật. Đối với yêu cầu giám định chữ ký chữ viết trong hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ này là không cần thiết, không phù hợp. Tòa sơ thẩm nhận định đánh giá chứng cứ không đúng với sự thật khách quan, tuy nhiên, lý do chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố G ban hành Thông báo 1005 về việc từ chối hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho ông T là do đất đang có tranh chấp với bà Nguyễn Thị N đã được toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa thụ lý giải quyết. Tại phiên toà sơ thẩm ông T cũng thừa nhận vụ án đang được giải quyết. Như vậy căn cứ theo Điều 11a Thông tư 24 của Bộ T3 thì việc chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố G ban hành Thông báo 1005 là đúng quy định pháp luật nên không có căn cứ hủy thông báo này. Phía người bị kiện không xác định nguyên nhân vi phạm thời hạn cấp GCNQSDĐ. Tuy nhiên, nếu ông T có căn cứ cho rằng thời hạn giải quyết hồ sơ cấp GCNQSDĐ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của ông thì có thể khởi kiện bằng vụ án khác. Bản chất của vụ án hành chính này chỉ tập trung xét yêu cầu huỷ Thông báo số 1005 nên yêu cầu kháng cáo của ông T không có căn cứ chấp nhận. Từ những lý do trên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến tranh luận của các bên đương sự, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng:
- Đơn kháng cáo của người khởi kiện ông Trần Hữu T nộp trong thời hạn quy định của pháp luật nên hợp lệ.
- Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền và thời hiệu giải quyết vụ án:
Ngày 28/12/2022, ông T khởi kiện đề nghị Tòa án hủy Thông báo số 1005/TB-CNVPĐKDĐ ngày 23/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đất đai thành phố G về việc từ chối giải quyết hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Yêu cầu UBND thành phố G cấp và trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T theo hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2017 (Phiếu tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả ngày 18/5/2017). Đây là khiếu kiện quyết định hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông và còn thời hiệu giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung:
- [1] Về thẩm quyền ban hành: Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố G ký thông báo trả lại hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1005/TB-CNVPĐKĐĐ là đúng thẩm quyền theo khoản 19 Điều 1 Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/10/2020 của Chính phủ.
- [2] Về nội dung quyết định:
- [2.1] Ngày 15/8/2017, ông Trần Hữu T và bà Nguyễn Thị Thu H làm thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1013, tờ bản đồ số 08, diện tích 533m² tọa lạc tại Tổ dân phố C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông tại UBND phường N.
- [2.2] Ngày 30/01/2018, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố G nhận được hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Trần Hữu T và bà Nguyễn Thị Thu H. Quá trình xem xét hồ sơ về nguồn gốc sử dụng đất liên quan đến việc miễn giảm 50% tiền sử dụng đất chưa có cơ sở nên Phòng Tài nguyên và Môi trường ban hành Công văn số 51/CV-TNMT ngày 02/3/2018 trả lại hồ sơ cho ông T, bà H để UBND phường N xác nhận lại nguồn gốc và thời điểm làm nhà trên đất. Ngày 22/3/2018, UBND phường N ban hành Công văn số 70/CV-UBND-ĐC về việc xác định lại nguồn gốc và thời điểm làm nhà của ông T. Ngày 18/7/2018, ông T có đơn khiếu nại UBND phường N ban hành Công văn số 70/CV-UBND-ĐC về việc xác định lại thời điểm làm nhà của ông T sau năm 2006 là không đúng quy định. Chủ tịch UBND phường N không chấp nhận khiếu nại của ông T, ông T tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBND thành phố G. Ngày 07/5/2019, Chủ tịch UBND thành phố G ban hành Quyết định số 497/QĐ-UBND chấp nhận nội dung khiếu nại của ông T, yêu cầu UBND phường N Hội đồng tư vấn xem xét, giải quyết hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho ông T.
- [2.3] Trong quá trình giải quyết hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T thì bà Nguyễn Thị N có gửi đơn khiếu nại tranh chấp quyền sử dụng đất với ông T đến UBND thị xã G.
Đồng thời, hồ sơ vụ án thể hiện bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T trả lại 500m² đất lấn chiếm và yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Đặng N1 và ông Trần Hữu T. Vụ án đang được Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa thụ lý giải quyết theo các Thông báo thụ lý vụ án số 144/2020/TB-TLVA ngày 09/10/2020 và thông báo thụ lý vụ án bổ sung số 03/2021/TB-TLVA ngày 09/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa. Tại phiên tòa, ông T thừa nhận hiện nay vụ án tranh chấp giữa ông với bà N vẫn đang trong quá trình giải quyết.
Vì vậy, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố G ban hành Thông báo số 1005/TB-CNVPĐKĐĐ ngày 23/12/2022 về việc từ chối giải quyết hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T là đúng quy định tại khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013, Điều 11a Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T3 được sửa đổi tại điểm đ khoản 11 Điều 7 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017.
- [2.4] Về việc ông T yêu cầu cấp và trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Căn cứ để UBND thành phố G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải dựa trên hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, hiện tại hồ sơ của ông Trần Hữu T đã bị Văn phòng đăng ký đất đai từ chối giải quyết. Như vậy, chưa phát sinh trách nhiệm nghĩa vụ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND thành phố G đối với ông T.
[3] Tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hữu T là có căn cứ. Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất quan điểm đại diện Viện kiểm sát cấp cao, bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Hữu T.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 37/2023/HC-ST ngày 13/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 11a Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T3 quy định về hồ sơ địa chính được bổ sung tại điểm đ khoản 11 Điều 7 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ T3:
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hữu T đối với yêu cầu hủy Thông báo số 1005/TB-CNVPĐKĐĐ ngày 23/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đất đai thành phố G về việc từ chối giải quyết hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu UBND thành phố G cấp và trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T theo hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2017 (Phiếu tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả ngày 18/5/2017).
- Về án phí sơ thẩm: Ông Trần Hữu T phải chịu 300.000 đồng án phí được khấu trừ theo biên lai số 0000229 ngày 11/01/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông.
- Về án phúc thẩm: Ông Trần Hữu T phải chịu 300.000 đồng án phí được khấu trừ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000075 ngày 05/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Duyên |
Bản án số 377/2024/HC-PT ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Số bản án: 377/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
