Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 3768/2024/DS-ST

Ngày: 15-08-2024.

V/v Tranh chấp về hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Lợi
  2. Bà Võ Thị Gái.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 348/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 4425/2024/QĐXXST-DS ngày 19/06/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 5443/2024/QĐST-DS ngày 16/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Địa chỉ: Lầu H, 2 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm: 1973; địa chỉ: Lầu H, 2 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh Là đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 4757/2023/UQ-TGĐ ngày 20/12/2023).

Bị đơn: Bà Trần Thị Thanh N, sinh năm: 1978.

Địa chỉ: T MASTERI T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Ông Nguyễn Minh T vắng mặt có đơn xin vắng mặt, bà Trần Thị Thanh N vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, và các biên bản trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S có ông Nguyễn Minh T là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 04/01/2020, bà Trần Thị Thanh N có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng S1) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của bà N, Ngân hàng S1 đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 150.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 2.127.281.685 đồng, bà N đã thanh toán cho Ngân hàng S1 số tiền 2.061.544.219 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng), ngày 06/12/2023 Ngân hàng S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng). Tạm tính đến ngày 15/8/2024, bà N còn nợ Ngân hàng S1 các khoản sau: Dư nợ gốc là: 175.410.406 đồng, nợ lãi quá hạn: 134.746.396 đồng, tổng cộng là: 310.156.802 đồng.

Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 175.410.406 đồng với lãi suất quá hạn là 3,723%/tháng (2.482%*150%) từ ngày Ngân hàng S1 chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Mặc dù Ngân hàng S1 đã yêu cầu bà N có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà N vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng S1, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, Ngân hàng S1 yêu cầu Tòa án buộc bà N phải trả ngay cho Ngân hàng S1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 15/08/2024 là 310.156.802 đồng trong đó: Dư nợ gốc 175.410.406 đồng, tiền lãi quá hạn là 134.746.396 đồng, bà N có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 16/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn bà Trần Thị Thanh N vắng mặt nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Bà N đã vi phạm các nghĩa vụ trong Hợp đồng, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà N phải trả ngay cho Ngân hàng S1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 15/08/2024 là 310.156.802 đồng trong đó: Dư nợ gốc 175.410.406 đồng, tiền lãi quá hạn là 134.746.396 đồng, bà N có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 16/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán các khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng, do đó quan hệ tranh chấp trong vụ án này được xác định là : “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại thành phố T nên căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn bà Trần Thị Thanh N vắng mặt, ông Nguyễn Minh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự, người đại diện hợp pháp của các đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét về thời hiệu khởi kiện. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án không xem xét về thời hiệu khởi kiện vụ án.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và lời trình bày, xác nhận của người đại diện hợp pháp của các đương sự, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Ngày 04/01/2020, bà N và Ngân hàng S1 có ký với nhau Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng). Các bên thỏa thuận hạn mức sử dụng thẻ tín dụng của bà N là 150.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, các bên còn thỏa thuận về việc trả tiền lãi, lãi suất, lãi suất quá hạn, quyền nghĩa vụ giữa các bên... và một số thỏa thuận khác.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 2.127.281.685 đồng, bà N đã thanh toán cho Ngân hàng S1 số tiền 2.061.544.219 đồng, trong đó thứ tự thanh toán khoản tiền gốc, lãi theo thỏa thuận tại Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng. Sau đó, bà N không tiếp tục thanh toán khoản nợ còn lại cho Ngân hàng S1 và ngày 06/12/2023, Ngân hàng S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Xét Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng nêu trên giữa các bên có hình thức đúng quy định của pháp luật, nội dung các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng không vi phạm điều cấm của pháp luật, các bên tự nguyện ký kết nên Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng này phù hợp với quy định tại Điều 4, Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017), có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Xét việc các bên thỏa thuận về hạn mức sử dụng, khoản tiền, thời hạn, việc trả nợ gốc, nợ lãi, ngày chuyển nợ quá hạn, lãi suất, lãi quá hạn và các thỏa thuận khác trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng là phù hợp với các quy định của pháp luật, bà N cũng chỉ trả được một phần khoản tiền cho Ngân hàng S1 và vi phạm các nghĩa vụ thanh toán tiền cho phía nguyên đơn, do đó việc nguyên đơn yêu cầu bà N phải trả ngay các khoản tiền gốc, tiền lãi quá hạn theo lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng tính đến ngày 15/8/2024 tổng cộng: 310.156.802 đồng (trong đó: Dư nợ gốc 175.410.406 đồng, tiền lãi quá hạn là 134.746.396 đồng) là có cơ sở để xem xét chấp nhận, phù hợp với các quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, hướng dẫn tại Điều 7, Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Căn cứ hướng dẫn tại Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì việc nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn phải trả khoản lãi phát sinh kể từ ngày 16/8/2024 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm) trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng cho đến khi thi hành án xong là có cơ sở để chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn bà N phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền tính đến ngày 15/8/2024 tổng cộng: 310.156.802 đồng, trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày 16/8/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà N còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng đã ký kết.

[4] Về án phí và quyền kháng cáo:

Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn phải chịu án phí. Nguyên đơn không phải chịu án phí, hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được cấp, tống đạt theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 184; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 4, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:

Buộc bà Trần Thị Thanh N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 310.156.802 đồng (Ba trăm mười triệu, một trăm năm mươi sáu nghìn, tám trăm lẻ hai đồng), trong đó: Dư nợ gốc 175.410.406 đồng (Một trăm bảy mươi lăm triệu, bốn trăm mười nghìn, bốn trăm lẻ sáu đồng), tiền lãi quá hạn là 134.746.396 đồng (Một trăm ba mươi bốn triệu, bảy trăm bốn mươi sáu nghìn, ba trăm chín mươi sáu đồng), trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/8/2024) cho đến khi thi hành án xong toàn bộ khoản nợ, bà Trần Thị Thanh N còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng đã ký kết ngày 04/01/2020.

Các bên thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm là: 15.507.840 đồng (Mười lăm triệu, năm trăm lẻ bảy nghìn, tám trăm bốn mươi đồng) bà Trần Thị Thanh N phải chịu. Bà N chưa nộp án phí.

H lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 6.436.932 đồng (Sáu triệu, bốn trăm ba mươi sáu nghìn, chín trăm ba mươi hai đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0025060 ngày 30/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

3. Về quyền yêu cầu thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bà Trần Thị Thanh N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được cấp, tống đạt, niêm yết, thông báo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thủ Đức;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trung Thực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3768/2024/DS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 3768/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng- Trần Thị Thanh N 2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger