Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số:376/2023/HS-ST

Ngày: 25-12-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Diệp Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tiến và bà Lê Thị Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương - Kiểm sát viên

Mở phiên tòa công khai ngày 25 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 380/2023/TLST - HS ngày 28 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 367/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Ngọc H, sinh năm 1999. Giới tính: Nam. Hộ khẩu thường trú: xóm A, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo, đảng phái: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 08/12. Con ông Phạm Ngọc H1 và bà Doãn Thị S. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  1. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1981. HKTT: số I, ngõ B N, tổ F, phường Y, quận H, TP . Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
  2. Chị Nguyễn Ngọc L, sinh năm 2003. HKTT: số I, ngõ B N, tổ F, phường Y, quận H, TP . Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Phạm Thị K, sinh năm 1992. HKTT: xóm A, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Nơi ở hiện nay: số H, ngõ B N, tổ F, phường Y, quận H, TP Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Anh Trần Văn H2, sinh năm 1986. HKTT: Thôn V, thị trấn V, huyện Ứ, TP . Hà Nội. Địa chỉ liên hệ: Cửa hàng mua bán điện thoại, số A P, phường T, quận N, TP . Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 3 năm 2023, Phạm Ngọc H đến ở tại số nhà H, ngõ B N, tổ F, phường Y, quận H, TP Hà Nội, là nhà của chị Phạm Thị K - là chị gái của H thuê để ở, H ở tại phòng trên tầng 3 của ngôi nhà số H. Quá trình ở tại đây, H quan sát thấy nhà của chị Nguyễn Thị T - nhà số I, ngõ B N, tổ F, phường Y, quận H, TP . Hà Nội, sát cạnh nơi H ở có ô văng cửa sổ gần với cửa sổ tại tầng 3 nhà chị gái H. Do không có công ăn việc làm, không có tiền chi tiêu cá nhân nên H đã nảy sinh ý định vào nhà chị T để trộm cắp tài sản.

Thực hiện ý định trên, khoảng 01 giờ 00 phút ngày 29/8/2023, H mở cửa sổ tại tầng 3, trèo ra khỏi cửa sổ, nhảy lên ô văng cửa sổ nhà chị T sau đó trèo lên lan can tầng 3 đi lên sân thượng nhà chị T để tìm tài sản. Thấy cửa sân thượng đi xuống tầng 3 không khóa, H đi bộ vào bên trong phòng tầng 3 thì không phát hiện thấy tài sản gì nên tiếp tục đi xuống tầng 2. Tại tầng 2 Huyến phát hiện thấy 01 phòng không đóng khóa, H đi vào bên trong thì thấy con gái chị T là chị Nguyễn Ngọc L đang nằm ngủ, cuối giường có để 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu iPhone 8 Plus màu trắng đang sạc, H lấy chiếc điện thoại của cháu L cất vào túi quần rồi đi xuống tầng 1 tiếp tục tìm tài sản. Khi xuống tầng 1, H phát hiện tại bàn uống nước phòng khách tầng 1 có để 01 chiếc ví da tối màu của chị T, H kiểm tra trong ví thấy có tiền và 01 thẻ ngân hàng M loại thẻ Visa màu đen. H đã lấy 01 tờ tiền có mệnh giá số tiền 200.000 đồng và 01(một) thẻ ngân hàng M loại thẻ Visa màu đen cất vào túi quần đang mặc rồi đi lên tầng 3 trèo về nhà chị K. Tại đây, H đã tự dò được mật khẩu mở khóa màn hình của chị L và tìm được thông tin ngày tháng năm sinh của chị T là 27-12-1981 qua Zalo của chị L có trong điện thoại với mục đích tìm thông tin liên quan đến mật khẩu của chiếc thẻ VISA vừa trộm cắp được. Huyến đoán đây là mật khẩu của thẻ VISA nên ghi lại thông tin này sau đó thoát tài khoản iCloud của điện thoại, cài đặt lại điện thoại về cài đặt ban đầu (xóa hết thông tin trong điện thoại).

Đến khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày, H một mình điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, sơn màu đỏ, đen biển kiểm soát 18G1-274.13 đi đến cây ATM của Ngân hàng V tại trụ sở Trường Đại học P thuộc phường Y, quận H, TP . Hà Nội, H quẹt thẻ VISA vừa trộm cắp được và nhập ngày tháng sinh của chị T là 27-12 vừa lấy được từ điện thoại trộm cắp được thì thấy đúng mật khẩu của thẻ này nên H đã rút tiền 2 lần, mỗi lần rút số tiền 5.000.000 đồng, tổng cộng là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). H đi đến cây ATM của Ngân hàng V1 tại tòa nhà T thuộc phường Y, quận H, TP . Hà Nội rút tiếp số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) từ thẻ VISA trên. H đi đến Đại học G tại phố T, xã T, huyện T, TP . Hà Nội rút số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), sau đó không rút được nữa. Tổng cộng 04 lần Huyến rút tiền trong thẻ VISA của chị Nguyễn Thị T được số tiền 16.000.000 đồng. Sau khi rút được tiền, H mang chiếc điện thoại trộm cắp được cùng số tiền trên về quê tại Nam Định chi tiêu cá nhân hết, chiếc thẻ H đã vứt bỏ trên đường đi về quê Nam Định. Đến ngày 07/9/2023, H mang 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu iPhone 8 Plus màu trắng đã lấy của cháu Nguyễn Ngọc L bán cho anh Trần Văn H2 (sinh năm 1986, HKTT: Thôn V, thị trấn V, huyện Ứ, TP . Hà Nội) là chủ cửa hàng mua bán điện thoại ở số A P, phường T, quận N, thành phố Hà Nội lấy số tiền 2.750.000 đồng (hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Toàn bộ số tiền có được, H đã chi tiêu cá nhân hết. Sau khi mua chiếc điện thoại của H, anh H2 đã bán chiếc điện thoại trên cho một người không quen biết lấy số tiền 3.500.000 đồng.

Ngày 12/9/2023, chị Nguyễn Thị T đến Công an phường Y, quận H trình báo về việc bị mất trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus màu trắng của cháu Nguyễn Ngọc L, tiền mặt 200.000 đồng và 01 thẻ VISA M1 với tổng số tiền bị rút trong thẻ là 16.000.000 đồng.

Cùng ngày 12/9/2023, Phạm Ngọc H đã đến Công an phường Y xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên. Đồng thời, giao nộp 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, sơn màu đỏ đen mang biển kiểm soát 18G1-274.13 (là phương tiện Phạm Ngọc H dùng để đi rút tiền từ thẻ VISA và bán điện thoại trộm cắp được).

Vật chứng đã thu giữ:

01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA EXCITER màu Đỏ Đen, biển kiểm soát 18G1-274.13, số máy G3D4E339803, số khung RLCUG0610GY323699 đã qua sử dụng, là phương tiện Phạm Ngọc H dùng để đi rút tiền từ thẻ VISA và bán điện thoại trộm cắp được.

Vật chứng không thu giữ được:

  • 01 (một) tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng (loại tiền Ngân hàng N đang lưu hành;
  • 01 (một) thẻ VISA Ngân hàng M1 mang tên Nguyễn Thị T, H - H đã vứt bỏ không xác định được vị trí;
  • 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng 32GB, đã qua sử dụng (bên trong lắp sim số 0365100863) là tài sản H đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Ngọc L.

Ngày 20/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận H ra Yêu cầu định giá tài sản số 201/YC-CQĐT yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H tiến hành định giá đối với 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng, dung lượng bộ nhớ 32GB mà Phạm Ngọc H đã trộm cắp. Biên bản và Kết luận định giá tài sản số 235/KL-HĐĐGTS Ngày 20/9/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận H, kết luận: “01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus màu trắng, dung lượng bộ nhớ 32GB, đã qua sử dụng, chưa thu giữ được vật chứng, có giá trị tại thời điểm định giá là 2.950.000 đồng (hai triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng)”.

Tổng giá trị tài sản Phạm Ngọc H đã chiếm đoạt là: 2.950.000 đồng (giá trị chiếc điện thoại chưa thu giữ được) + 200.000 đồng (01 tờ tiền) + số tiền 16.000.000 (rút trong thẻ) = 19.150.000 đồng (Mười chín triệu một trăm năm mươi nghìn Việt Nam đồng).

Đối với 01 chiếc thẻ VISA của chị Nguyễn Thị T: Phạm Ngọc H khai sau khi rút hết tiền đã vứt chiếc thẻ này đi trên đường đi về quê Nam Định. Cơ quan CSĐT Công an quận H đã tìm kiếm, nhưng không thu hồi được vật chứng.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus của chị Nguyễn Ngọc L: Huyến khai đã bán cho anh Trần Văn H2, anh H2 đã bán lại người không quen biết. Cơ quan CSĐT Công an quận H đã điều tra xác minh, nhưng không thu hồi được vật chứng.

Đối với anh Trần Văn H2 là đã người mua 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus mà Phạm Ngọc H trộm cắp được. Kết quả điều tra xác định: Anh H2 không biết chiếc điện thoại trên là tài sản do H phạm tội mà có nên không đề cập xử lý. Quá trình giải quyết anh H2 không có đề nghị hay yêu cầu gì về phần dân sự.

Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu Đỏ đen, biển kiểm soát 18G1-274.13, số máy G3D4E339803, số khung RLCUG0610GY323699 là phương tiện H dùng để đi rút tiền và bán điện thoại trộm cắp, quá trình điều tra đã xác định chiếc xe thuộc quyền sở hữu của Phạm Ngọc H. Cơ quan điều tra chuyển chiếc xe đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành dân sự quận H chờ quyết định xử lý.

Quá trình điều tra, chị Phạm Thị K - chị gái của H đã thay Huyến bồi thường cho chị Nguyễn Thị T và chị Nguyễn Ngọc L số tiền 24.200.000 đồng. Chị T và chị L đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Cáo trạng 380/CT-VKS-HĐ ngày 27/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đã truy tố Phạm Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Đại diện Viện kiểm sát quận H, Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Ngọc H 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án về tội Trộm cắp tài sản và giao bị cáo cho UBND nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.
  • Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Nguyễn Thị T và chị Nguyễn Ngọc L đã nhận được tiền bồi thường thiệt hại, đến nay không có yêu cầu gì khác nên cần ghi nhận. Đối với số tiền 24.200.000 đồng mà chị Phạm Thị K - chị gái của H đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị T và cháu Nguyễn Ngọc L, chị K không đề nghi H phải trả lại nên cần ghi nhận sự tự nguyện này của chị K.
  • Về xử lý vật chứng: 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu Đỏ đen, biển kiểm soát 18G1-274.13, số máy G3D4E339803, số khung RLCUG0610GY323699, đã thu giữ là phương tiện H dùng để đi rút tiền từ thẻ VISA và bán điện thoại trộm cắp được nên đề nghị tịch phát mại sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo xin hưởng hình phạt cải tạo tại địa phương để tu dưỡng trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận định giá và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Do không có công ăn việc làm, không có tiền chi tiêu cá nhân nên khoảng 01 giờ 00 phút ngày 29/8/2023, tại số I, ngõ B N, Tổ F, phường Y, quận H, TP . Hà Nội, lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản, Phạm Ngọc H có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Ngọc L 01(một) chiếc điện thoại iPhone 8 Plus, đã qua sử dụng, trị giá 2.950.000 đồng mang bán cho Trần Văn H2 lấy số tiền 2.750.000 đồng, anh H2 bán lại cho người không quen biết lấy số tiền 3.500.000 đồng; chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị T 01(một) tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng (loại tiền Ngân hàng N đang lưu hành) và 01(một) chiếc thẻ VISA, H dùng chiếc thẻ của chị T mang đi rút 04 lần tiền lấy tổng số tiền 16.000.000 đồng trong tài khoản thẻ của chị T, toàn bộ số tiền trên Phạm Ngọc H đã chi tiêu cá nhân hết. Tổng giá trị tài sản Phạm Ngọc H đã chiếm đoạt là 19.150.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội đã truy tố.

[3]. Về tính chất vụ án, hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân; gây mất trật tự trị an trong khu vực nên cần thiết phải xử lý, có hình phạt phù hợp mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt: Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã đầu thú, thành khẩn khai báo, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được xem xét giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên có thể cho bị cáo hưởng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, tạo cơ hội cho bị cáo tu dưỡng trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã được bồi thường thiệt hại, đến nay không có yêu cầu gì khác nên cần ghi nhận. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị K không đề nghị H phải trả lại số tiền chị K đã bồi thường thay cho H nên cần ghi nhận; anh H2 không có yêu cầu hay đề nghị gì khác về phần dân sự nên không xem xét.

[6]. Về xử lý vật chứng: 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu Đỏ đen, biển kiểm soát 18G1-274.13, số máy G3D4E339803, số khung RLCUG0610GY323699, đã thu giữ là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Phạm Ngọc H 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

3. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Ghi nhận sự tự nguyện của người bị hại về việc đã được bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu, đề nghị gì về phần dân sự.
  • Ghi nhận sự tự nguyện của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị K không đề nghị H phải trả lại số tiền chị K đã bồi thường thay cho H.
  • Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu Đỏ đen, biển kiểm soát 18G1-274.13, số máy G3D4E339803, số khung RLCUG0610GY323699 (đã qua sử dụng). ( Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/12/2023 giữa Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - Công an quận Hà Đông;
  • - THADS quận Hà Đông;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Diệp Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 376/2023/HS-ST ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 376/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc H phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger