|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 376/2024/HS-ST
Ngày 24 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Linh Thu Hồng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam.
Ông Nguyễn Văn Năm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 391/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 376/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Ngọc S, sinh ngày 06 tháng 5 năm 1964 tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký thường trú: Tổ H, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi sinh sống: C8 Tổ 3, khu phố I, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc M (đã chết) và bà Đặng Thị N (đã chết); Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị L, có 01 con tên Trần Thị Thúy A, sinh năm 1990.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/4/2024 đến ngày 18/4/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị hại: Ban Quản lý Dịch vụ công ích thành phố B.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Vũ Q - chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc Nam K, sinh năm 1979.
Địa chỉ: 1, khu phố A, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Văn bản ủy quyền ngày 17/6/2024).
- Người làm chứng:
- Ông Tống Thành Đ, sinh năm 1994.
- Ông Nguyễn Như H, sinh năm 1971.
Địa chỉ: A, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: C, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo S có mặt; ông K và người làm chứng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 11/4/2024, Trần Ngọc S đi bộ từ nhà tại Tổ C, Khu phố I, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đến khu vực cầu A tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để tập thể dục. Khi đi đến giữa cầu, S phát hiện thấy dọc theo thành cầu A có 01 (một) đoạn dây cáp điện, vỏ bọc cao su màu đen, bên trong có 04 (bốn) dây điện nhỏ bằng kim loại bằng đồng bị cắt đứt thuộc Công trình lắp đặt đèn trang trí nghệ thuật và logo cầu A do Ban Quản lý Dịch vụ công ích thành phố B quản lý, S dùng tay sờ vào lõi dây điện thấy không có điện nên S nảy sinh ý định trộm cắp đoạn dây cáp điện bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên, khoảng 23 giờ cùng ngày, S từ nhà điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 60C1-146.47 mang theo 01 (một) lưỡi cưa dài 19cm, 01 (một) tua vít dài 19cm và 01 (một) cuộn băng keo trong đến khu vực giữa cầu A. Tại đây, S sử dụng dụng cụ mang theo, cưa đứt được 01 (một) đoạn dây cáp điện dài khoảng 30 mét, khi S đang quấn cuộn tròn sợi dây cáp điện trộm cắp được thì bị Công an phường H tuần tra, phát hiện, bắt giữ S, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Công an phường H lập hồ sơ, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để điều tra xử lý.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 107/KL-HĐĐGTS ngày 15/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố B, kết luận: 30 (ba mươi) mét dây cáp điện Daphaco CVV-CU/PVC-0,6/1KV (4x16) có giá trị là 2.490.000₫ (hai triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng).
Vật chứng vụ án:
- + 01 (một) cuộn dây cáp điện có vỏ bằng cao su màu đen dài 30 mét, bên trong có 04 sợi dây điện nhỏ, đường kính dây cáp điện kích thước 16mm là tài sản do Ban Quản lý Dịch vụ công ích thành phố B đang quản lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả lại cho anh Nguyễn Quốc Nam K là người đại diện theo ủy quyền của Ban Quản lý Dịch vụ công ích thành phố B.
- + 01 (một) lưỡi cưa bằng kim loại dài 19x3cm, một đầu cắt ngang, một đầu có lỗ trống hình bầu dục 0.5cm x0.7cm; 01 (một) tuốc nơ vít cán nhựa trong dài 9cm, đường kính 2cm, thân bằng kim loại màu trắng dài 10cm; 01 (một) cuộn băng keo trong; 01 (một) ống nhựa màu xám dài 14 cm, đường kính 2cm, có rãnh kẻ giữa nhét lưỡi cưa, hai đầu có vặn vít, một đầu cách 1cm, một đầu cách 3cm và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 60C1-146.47, màu đỏ đen bạc là công cụ và phương tiện S dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại Cáo trạng số 385/CT-VKSBH ngày 28 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Trần Ngọc S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, tuyên bố bị cáo Trần Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Ngọc S từ 08 (tám) tháng đến 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Áp dụng thời gian thử thách theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường, nên không xét.
Về xử lý vật chứng:
- - Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 60C1-146.47, màu đỏ đen bạc là phương tiện bị cáo S dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
- - Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) lưỡi cưa bằng kim loại dài 19x3cm, một đầu cắt ngang, một đầu có lỗ trống hình bầu dục 0.5x0.7cm; 01 (một) tuốc nơ vít cán nhựa trong dài 9cm, đường kính 2cm, thân bằng kim loại màu trắng dài 10cm;. 01 (một) cuộn băng keo trong; 01 (một) ống nhựa màu xám dài 14 cm, đường kính 2cm, có rãnh kẻ giữa nhét lưỡi cưa, hai đầu có vặn vít, một đầu cách 1cm, một đầu cách 3cm là công cụ S dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng hình sự:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị hại và những người làm chứng vắng mặt. Trong giai đoạn điều tra người đại diện theo ủy quyền của bị hại và người làm chứng đã có lời khai tại hồ sơ. Ngày 22/7/2024, ông Nguyễn Quốc Nam K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Việc vắng mặt của người đại diện theo ủy quyền của bị hại và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, không có sự mâu thuẫn, phù hợp với nội dung Bản Cáo trạng, lời khai của bị hại; người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 11/4/2024, tại khu vực cầu A tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Trần Ngọc S đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 30 (ba mươi) mét dây cáp điện Daphaco CVV-CU/PVC-0,6/1KV (4x16) trị giá 2.490.000₫ (hai triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng) thuộc Công trình lắp đặt đèn trang trí nghệ thuật và logo cầu A do Ban Quản lý Dịch vụ công ích thành phố B quản lý thì S bị bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Trần Ngọc S đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo theo tội danh và khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác để thu lợi bất chính. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo. Bị cáo đủ điều kiện để được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 60C1-146.47, màu sơn: đỏ đen bạc số khung RLHJC 4326BY340239; số máy: JC43E6279785 đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) lưỡi cưa bằng kim loại dài 19x3cm, một đầu cắt ngang, một đầu có lỗ trống hình bầu dục 0.5cm x 0.7cm; 01 (một) tuốc nơ vít cán nhựa trong dài 9cm, đường kính 02cm, thân bằng kim loại màu trắng dài 10cm;. 01 (một) cuộn băng keo trong; 01 (một) ống nhựa màu xám dài 14 cm, đường kính 2cm, có rãnh kẻ giữa nhét lưỡi cưa, hai đầu có vặn vít, một đầu cách 01cm, một đầu cách 03cm.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc S 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, nếu bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao bị cáo Trần Ngọc S cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 60C1-146.47, màu sơn: đỏ đen bạc số khung RLHJC 4326BY340239; số máy: JC43E6279785 đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) lưỡi cưa bằng kim loại dài 19x3cm, một đầu cắt ngang, một đầu có lỗ trống hình bầu dục 0.5cm x 0.7cm; 01 (một) tuốc nơ vít cán nhựa trong dài 9cm, đường kính 2cm, thân bằng kim loại màu trắng dài 10cm;. 01 (một) cuộn băng keo trong; 01 (một) ống nhựa màu xám dài 14 cm, đường kính 2cm, có rãnh kẻ giữa nhét lưỡi cưa, hai đầu có vặn vít, một đầu cách 1cm, một đầu cách 3cm.
Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo Quyết định chuyển vật chứng số 6473/QĐ-VKSBH ngày 28/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Biên bản việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Ngọc S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Linh Thu Hồng |
Bản án số 376/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 376/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Soái Trộm cắp tài sản
