|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 376/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23/9/2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tám
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh
Bà Huỳnh Thị Kim Kiên
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1339/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 297/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 406/2024/QĐST- HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Thạch T, sinh năm 1988
Địa chỉ: 5, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Trần Văn Ú, sinh năm 1987
Địa chỉ tạm trú: Tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Bà T có đơn xin vắng mặt, ông Ú vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 5 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Ngô Thị Thạch T trình bày: Sau thời gian quen biết và tìm hiểu, bà và ông Ú được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục truyền thống và được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận ký kết hôn vào ngày 27/10/2014, hôn nhân của ông bà là hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu chung sống, vợ chồng hạnh phúc. Tuy nhiên sau đó, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, chênh lệch nhau về trình độ, nhận thức. Gia đình hai bên biết và có can ngăn hoà giải nhưng không được. Vợ chồng đã ly thân khoảng 08 năm nay. Nhận thấy hôn nhân không thể hàn gắn, đoàn tụ, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Trần Văn Ú
Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà và ông Ú tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Văn Ú đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập đương sự; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng ông Ú không đến Tòa án làm việc nên không có lời trình bày.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn bà Ngô Thị Thạch T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai, có đơn đề nghị vắng mặt nên nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Trần Văn Ú đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, giấy triệu tập tham gia các buổi làm việc, công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa xét xử vụ án nhưng vắng mặt không có lý do nên bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Thạch T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Ngô Thị Thạch T xin ly hôn ông Trần Văn Ú, ông Ú là bị đơn cư trú tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông Ú đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2] Về việc giải quyết vụ án:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Ú tự nguyện chung sống với nhau, được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp chứng nhận đăng ký kết hôn số 134/2014 vào ngày 27/10/2014 nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 9,11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Nay bà T xin ly hôn, Tòa án căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
2.2. Về yêu cầu xin ly hôn của bà T: Bà T khai, thời gian đầu chung sống, vợ chồng hạnh phúc. Tuy nhiên sau đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, chênh lệch nhau về trình độ, nhận thức. Gia đình hai bên biết và có can ngăn hoà giải nhưng không được. Vợ chồng đã ly thân khoảng 08 năm nay. Nhận thấy hôn nhân không thể hàn gắn, đoàn tụ, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Văn Ú.
Bị đơn ông Trần Văn Ú đã được Tòa án xác minh là có hộ khẩu thường trú tại: Tổ A, khu phố B, phường L (địa chỉ cũ là 33/110, tổ A, KP.2, phường L), thành phố B, tỉnh Đồng Nai, đương sự hiện nay đang thực tế sinh sống và có mặt tại địa phương. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác cho ông Ú tại địa chỉ trên nhưng ông Ú không đến Tòa án để làm việc, cũng không có văn bản trình bày ý kiến. Tại phần kết quả xác minh tại phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thể hiện trong quá trình chung sống, giữa bà T, ông Ú có xảy ra mâu thuẫn hay không thì địa phương không biết vì khi xảy ra mâu thuẫn, các đương sự không báo với địa phương và không có đơn đề nghị địa phương hoà giải. Tại địa chỉ 33/110, tổ A, KP.2, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai hiện nay chỉ có ông Ú sinh sống. Hơn nữa, việc ông Ú biết Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án nhưng không đến Toà án làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến thể hiện ông Ú đã có ý bỏ mặc việc Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân giữa hai người.
Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng bà T và ông Ú là có thật và hiện đã rất trầm trọng. Vợ chồng đã ly thân và không còn quan tâm, tôn trọng nhau, mục đích hôn nhân không đạt, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, nếu tiếp tục kéo dài tình trạng hôn nhân cũng không đem đến hạnh phúc cho nhau. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn xin ly hôn của bà T, cho bà T được ly hôn với ông Ú để cả hai sớm ổn định cuộc sống.
2.3. Về con chung: Nguyên đơn khai vợ chồng không có con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
2.4. Về tài sản chung: Nguyên đơn khai vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
2.5. Về nợ chung: Nguyên đơn khai vợ chồng không có, nợ chung, các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
2.6. Về án phí: Bà Ngô Thị Thạch T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Thạch T với bị đơn ông Trần Văn Ú về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Thạch T, sinh năm 1988 được ly hôn ông Trần Văn Ú, sinh năm 1987.
- Về con chung: Không có, không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Ngô Thị Thạch T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0003871 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, bà T đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tám |
Bản án số 376/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 376/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Ngô Thị Thạch T và ông Trần Văn Ú tranh chấp ly hôn
