Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 376/2024/DS-ST

Ngày: 12-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay

tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lưu Đức Quang;
  2. Ông Nguyễn Văn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thanh Trúc - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 218/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 485/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 261/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Dương Khánh B, sinh năm 1997.

Thường trú: Số 659/ATHO, A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Anh T, sinh năm 1999 (có mặt)

Địa chỉ: Phòng G.02 The Vital building, số A Đ, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Bà Trần Thanh M – Chủ doanh nghiệp tư nhân K (vắng mặt lần 2 không lý do).

Địa chỉ: Số E C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai người đại diện của nguyên đơn trình bày: Ông Dương Khánh B và bà Trần Thanh M - chủ doanh nghiệp tư nhân K có mối quan hệ quen biết, nhiều lần hợp tác đầu tư. Ngày 15/10/2023, ông B và bà M đã xác lập thỏa thuận cho vay theo Giấy mượn nợ đề ngày 15/10/2023, cụ thể như sau:

  • + Tiền vay: 16.511.000.000 đồng
  • + Lãi suất cho vay: 0,9%/tháng.

Giấy mượn nợ nêu trên được bà M viết, ký và đóng dấu của T1 vàng Kim Ngân 1. Sau đó, bà M không trả lãi như cam kết của hai bên. Ông B đã nhiều lần liên hệ, yêu cầu bà M thanh toán tiền lãi và tiền gốc nhưng bà M có dấu hiệu lẩn tránh trách nhiệm thanh toán, vi phạm thỏa thuận vay tiền giữa các bên.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc bị đơn hoàn trả tổng số tiền gốc và lãi đã vay tính đến ngày 15/8/2024 theo mức lãi suất 0,9%/tháng là 17.996.990.000 đồng trong đó nợ gốc: 16.511.000.000 đồng và tiền lãi là 1.485.990.000 đồng. Nguyên đơn chỉ tính lãi đến ngày 15/8/2024, không tính lãi phát sinh.

Thanh toán một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Quyết định xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà M không nộp tài liệu, chứng cứ, vắng mặt khi hòa giải công khai chứng cứ và tại phiên tòa hôm nay.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ giai đoạn thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay là đã tuân thủ đúng, đầy đủ quy định pháp luật.

- Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

1.1 Nguyên đơn ông B khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà Trần Thanh M - chủ doanh nghiệp tư nhân K phải trả tiền vay, đây là vụ án dân sự về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn có địa chỉ tại Quận A nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2 Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:

[2.1] Đối với yêu cầu trả số tiền nợ gốc 16.511.000.000 đồng;

Xét Giấy vay tiền ngày 15/10/2023 thể hiện nội dung ông Dương Khánh B có cho bà Trần Thanh M - chủ doanh nghiệp tư nhân K 1 vay với tổng số tiền 16.511.000.000 đồng có chữ ký ghi họ tên và đóng dấu của bà Trần Thanh M - chủ doanh nghiệp tư nhân K.

Căn cứ Biên bản làm việc tại Tòa án ngày 03/7/2024 bị đơn xác nhận có vay tiền của ông Dương Khánh B nhưng chưa xác định số tiền gốc và lãi. Số tiền vay từ ông B là do cá nhân bà vay, không liên quan đến chồng bà. Giấy vay tiền ngày 15/10/2023 là chữ ký, chữ viết của bà, con dấu đóng trên giấy vay tiền là dấu của DNTN Kinh doanh K”.

Ngày 12/4/2024 ông B đã gửi thông báo đòi nợ cho bà M, bị đơn đã nhận thông báo đòi nợ theo giấy báo phát ngày 13/4/2024 của bưu điện Đ, nhưng đến nay bị đơn chưa trả cho nguyên đơn số tiền này.

Căn cứ quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền vay là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Trần Thanh M - chủ doanh nghiệp tư nhân K phải trả cho nguyên đơn số tiền vay gốc 16.511.000.000 đồng.

[2.2] Xét yêu cầu tính tiền lãi của nguyên đơn.

Giấy vay tiền ngày 15/10/2023 thể hiện giữa các bên có thỏa thuận lãi suất cho vay là 0,9%/tháng. Do đó nguyên đơn yêu cầu bà Trần Thanh M phải trả tiền lãi trên số tiền gốc 16.511.000.000 đồng là có căn cứ. Tại phiên tòa, nguyên đơn chỉ tính tiền lãi trên nợ gốc đến ngày 15/8/2024, không tiếp tục tính lãi là có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi là 1.485.990.000 đồng.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468 và Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Trần Thanh M - chủ doanh nghiệp tư nhân K phải trả cho ông Dương Khánh B tổng số tiền gốc và lãi là 17.996.990.000 (mười bảy tỉ, chín trăm chín mươi sáu triệu, chín trăm chín mươi nghìn) đồng, trong đó:

  • - Tiền gốc: 16.511.000.000 đồng
  • - Tiền lãi: 1.485.990.000 đồng

Thi hành án tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thanh M - chủ doanh nghiệp tư nhân K phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 125.996.990 (một trăm hai mươi lăm triệu, chín trăm chín mươi sáu nghìn, chín trăm chín mươi nghìn) đồng.

Hoàn trả cho ông Dương Khánh B số tiền 62.701.297 (sáu mươi hai triệu, bảy trăm lẻ một nghìn, hai trăm chín mươi bảy) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0020143 ngày 03/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND Quận 10;
  • - Chi cục THADS Quận 10;
  • - Đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Hiếu Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 376/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 376/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Dương Khánh B tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Trần Thanh M
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger