|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 376/2024/HS-ST. Ngày: 09/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Tiến Dũng;
- Bà Bùi Thị Phụng;
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong- Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 308/2024/TLST- HS ngày 14 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5583/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Lý An B, sinh năm: 1989 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; thường trú: thôn H, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi cư trú: không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Phước C và bà: Nguyễn Thị Ngọc H; hoàn cảnh gia đình: có vợ và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền sự: không,
Tiền án: 01- Bản án số 158/2010/HSST ngày 26/4/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo kháng cáo, trước khi mở phiên tòa, bị cáo rút kháng cáo nên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 180/2010/HSPT-QĐ ngày 29/6/2010; (bị cáo chưa thi hành bồi thường trách nhiệm dân sự số tiền 208.184.900 đồng);
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2022 đến nay. (có mặt tại phiên tòa).
- Huỳnh Công Q, sinh năm: 1980 tại Hậu Giang; thường trú: thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở hiện nay: Lô C đường L, khu phố C, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: vá vỏ xe; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Văn H1 và bà: Nguyễn Thị H2; hoàn cảnh gia đình: có vợ, chưa có con; tiền án, tiền sự: không;
Bị tạm giữ ngày 25/8/2022 đến ngày 01/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú số 03; bị cáo được tại ngoại; (có mặt tại phiên tòa);
Nguyên đơn dân sự: Công ty cổ phần V;
Địa chỉ trụ sở chính: Tầng E, tòa nhà B T, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện pháp luật: Bà Lê Thị Hồng H3, sinh năm: 1974;
Chức vụ: Giám đốc;
Địa chỉ: 2 P, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện ủy quyền cho nguyên đơn dân sự: Ông Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1995;
Chức vụ: Nhân viên Công ty cổ phần V;
Địa chỉ: 1 N, phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (ông P có mặt tại phiên tòa);
(theo Giấy ủy quyền số 06/2024/UQ- VTT ngày 01/8/2024);
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Thành P1, sinh năm: 1984;
- Hộ kinh doanh cầm đồ 660;
- Ông Trần Quang H5, sinh năm: 1974;
Địa chỉ: B đường A, khu phố F, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt tại phiên tòa);
Địa chỉ: F N, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Chủ hộ kinh doanh: Huỳnh Thị H4, sinh năm: 1977;
Địa chỉ: số D đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt tại phiên tòa);
Địa chỉ: 7 Khối D Lô J, C H, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt tại phiên tòa);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03/8/2022, Lý An B làm hồ sơ, giấy tờ tùy thân và giấy phép lái xe ô tô hạng FC với tên giả là Bùi Văn C1 (sinh năm 1984; HKTT: Ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai) để xin làm lái xe ô tô đầu kéo cho Công ty cổ phần V (gọi tắt là Công ty V), trụ sở tại tòa nhà B đường T, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh có bãi xe tại địa chỉ số H đường N, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 04/8/2022, Công ty V T ký Hợp đồng thử việc với B và lập biên bản bàn giao xe ô tô đầu kéo biển số 50H- 067.75 cho B chạy chở hàng khi có yêu cầu và theo điều động của công ty. Khi vào làm việc, B xin ứng trước của công ty số tiền 5.000.000 đồng để phục vụ ăn uống, sinh hoạt và đi đường.
Theo quy định của Công ty V, ngày thứ 7 và chủ nhật trong tuần toàn bộ nhân viên nghỉ làm, tất cả xe phải tập kết và đậu ở bãi xe chịu sự quản lý của bảo vệ công ty (chỉ bảo vệ xe ra vào và tránh trộm mất tài sản). Khoảng 03 giờ ngày 06/8/2022, B giao hàng chuyến cuối xong, B điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 50H- 067.75 về đậu ở bãi xe.
Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 07/8/2022, Lý An B nảy sinh ý định chiếm đoạt lượng dầu trong bình nhiên liệu của xe ô tô đầu kéo 50H- 067.75 do B quản lý nên B đi vào bãi xe lấy lý do sửa xe, đến khoảng gần 12 giờ cùng ngày lợi dụng bảo vệ đi ăn cơm nên B điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 50H- 067.75 ra khỏi bãi xe chạy đến tiệm “Vá vỏ P1” có địa chỉ tại Lô C đường N, khu phố C, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do anh Nguyễn Thành P1 làm chủ, B gặp Huỳnh Công Q và bán 218 lít dầu DO trong bình chứa nhiên liệu của xe ô tô đầu kéo biển số 50H- 067.75 với giá 3.720.000 đồng cho Q. Q biết rõ số dầu trên là do B trộm cắp mà có và trực tiếp dùng ống nhựa hút 218 lít dầu cho đầy vào 06 can nhựa.
Sau khi bán dầu xong, B điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 50H- 067.75 quay trở lại bãi xe rồi bỏ đi, tắt điện thoại di động không liên lạc. Đến ngày 24/8/2022, anh Nguyễn Ngọc P là nhân viên Công ty V Thịnh phát hiện B đang ngồi ăn cơm tại đường N nên báo Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh mời B về làm việc.
Qua điều tra xác định: Tháng 07/2022, Lý An B được Sở Giao thông vận tải Thành phố H cấp Giấy phép lái xe hạng FC, do bản tính ham chơi, thường xuyên bài bạc nên B mắc nợ. B đã mang giấy phép lái xe thật, căn cước công dân thật mang tên Lý An B đi cầm được số tiền 2.500.000 đồng. Do B đặt làm sẵn có giấy phép lái xe giả, chứng minh nhân dân giả mang tên Bùi Văn C1 nên ngày 02/8/2022, qua trang Fabook tên miền “Lái xe C” thấy Công ty V Thịnh đăng tuyển lái xe container và có số điện thoại trên trang tuyển dụng nên B liên lạc và gặp anh Nguyễn Ngọc P; đồng thời, chụp hình hồ sơ xin việc, giấy phép lái xe cho anh P (là người quản lý của Công ty V) để xin làm tài xế. Ngày 03/8/2022, B và Công ty V ký Hợp đồng thử việc và thống nhất mức lương, B được Công ty V Thịnh giao quản lý xe đầu kéo biển kiểm soát 50H- 067.75 để chở hàng theo điều động của Công ty V. Công ty V Thịnh phổ biến nội quy làm việc, riêng hai ngày cuối tuần thứ bảy, chủ nhật nghỉ. Quá trình làm việc, B nhắn tin xin Công ty V Thịnh ứng trước số tiền 5.000.000 đồng để phục vụ cho việc chạy hàng. Do không có tiền tiêu xài, khoảng 11 giờ ngày 07/8/2022, B vào bãi xe công ty nổ máy xe đầu kéo biển kiểm soát 50H- 067.75, đợi đến lúc bảo vệ ra ngoài ăn cơm, B điều khiển xe ra khỏi bãi xe, đi đến tiệm “Vá vỏ P” của anh Nguyễn Thành P1 trên đường L, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh bán 218 lít dầu DO cho Huỳnh Công Q số tiền 3.720.000 đồng. Sau khi nhận tiền, B điều khiển xe quay về bãi xe, thu dọn đồ đạc, tắt máy điện thoại, hủy nhóm tài xế và không liên lạc với Công ty.
- Bản Kết luận định giá tài sản số 172KV1- KLĐG- HĐĐGTS ngày 23/8/2022 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận thời điểm ngày 07/8/2022, 01 lít dầu DO có giá bán là 23.900 đồng, 06 can dầu DO có 218 lít dầu tổng giá trị là 5.210.200 đồng.
Đối với giấy chứng minh nhân dân số [...], giấy phép lái xe ô tô hạng FC số [...] đều mang tên Bùi Văn C1, sinh năm 1984; HKTT: Ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai; B khai nhận năm 2018, B lên mạng facebook đặt mua với giá 3.000.000 đồng, bộ hồ sơ xin việc nộp cho Công ty V Thịnh cũng được B đặt mua trên mạng với giá 200.000 đồng.
- Bản Kết luận giám định số 5537/KL- KTHS ngày 28/10/2022 của Phòng K- Công an Thành phố H kết luận:
- 04 (bốn) tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2, A7, A8 (đã nêu ở mục II.1) là giả.
- Không đủ cơ sở kết luận giám định 04 (bốn) tài liệu cần giám định ký hiệu từ A3 đến A6 (đã nêu ở mục II.1) là thật hay giả do không có mẫu so sánh tương ứng.
- Bản Kết luận giám định số 13086/KL -KTHS ngày 30/11/2023 của Phòng K- Công an Thành phố H kết luận:
- Hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D PHƯỜNG LONG BÌNH T.P BIÊN HOÀ T. ĐỒNG NAI *” trên 04 (bốn) tài liệu cần giám định ký hiệu A3, A4, A6, A9 (đã nêu ở mục II.1) so với hình dấu tròn của UBND phường L trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 (đã nêu ở mục II.2) do cùng một con dấu đóng ra.
- Hình dấu tròn có nội dung “TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ * SỞ Y TẾ TỈNH ĐỒNG NAI” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A5 (đã nêu ở mục II.1) so với hình dấu tròn của Trung tâm Y tế thành phố B- Sở Y tế tỉnh Đ trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2 (đã nêu ở mục II.2) không phải do cùng một con dấu đóng ra.
- Không đủ cơ sở kết luận chữ ký mang tên Trần Văn T1 trên 03 (ba) tài liệu cần giám định ký hiệu A4, A6, A9 (đã nêu ở mục II.1) so với chữ ký của Trần Văn T1 trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 (đã nêu ở mục II.2) có phải do cùng một người ký ra.
- Không đủ cơ sở kết luận chữ ký mang tên Nguyễn Thị Phương T2 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A5 (đã nêu ở mục II.1) so với chữ ký của Nguyễn Thị Phương T2 trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2 (đã nêu ở mục II.2) có phải do cùng một người ký ra hay không.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Thành phố T; Lý An B và Huỳnh Công Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng vụ án:
- + 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Bùi Văn C1, sinh năm 1984; HKTT: Ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- + 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng FC số [...] mang tên Bùi Văn C1, sinh năm 1984; HKTT: Ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- + 01 (một) căn cước công dân mang tên Lý An B,
- + 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng FC số [...] mang tên Lý An B.
- + 01 (một) USB bên trong chứa nhật ký hành trình, phần mềm quản lý nhiên liệu của xe đầu kéo biểm kiểm soát 50H- 067.75 trong ngày 07/8/2022.
- + Tài liệu trích xuất nhật ký hành trình, nhật ký tiêu thụ nhiên liệu của xe đầu kéo biển kiểm soát 50H- 067.75 trong ngày 07/8/2022.
- + 01 bộ hồ sơ xin việc gồm đơn xin việc làm, Sơ yếu lý lịch cá nhân, giấy khám sức khỏe, giấy xác nhận tạm trú, giấy sao y CMND, đơn xin xác nhận hạnh kiểm mang tên Bùi Văn C1, sinh năm 1984. (Tất cả kèm theo hồ sơ).
Tại bản Cáo trạng số 307/CT-VKSTPTĐ ngày 11/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
- - Bị cáo Lý An B về tội “Tham ô tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 353; điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- - Bị cáo Huỳnh Công Q về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa:
- - Các bị cáo Lý An B và Huỳnh Công Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố đối với:
- + Bị cáo Lý An B về tội “Tham ô tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm d khoản 2 Điều 341; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Lý An B từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù giam về tội “Tham ô tài sản” và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù giam về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Tổng hợp hình phạt của hai tội đối với bị cáo Lý An B là từ 05 năm đến 06 năm tù giam;
- + Bị cáo Huỳnh Công Q về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 323; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Áp dụng Nghị quyết 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán- Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán- Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán- Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Công Q từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm;
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, nguyên đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của các bị cáo như sau:
[2.1] Đối với hành vi phạm tội của bị cáo Lý An B:
* Hành vi phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”:
Bị cáo Lý An B có nghề nghiệp là tài xế, do thiếu tiền tiêu xài nên vào ngày 18/7/2022 bị cáo đem giấy phép lái xe hạng FC và căn cước công dân mang tên Lý An B đem đi cầm cố; do không có giấy phép lái xe và căn cước công dân để xin việc làm nên bị cáo làm giả Giấy phép lái xe và căn cước công dân mang tên Bùi Văn C1. Đầu tháng 08/2022, bị cáo làm giả một bộ hồ sơ xin việc (gồm có: Đơn xin việc làm, Sơ yếu lý lịch cá nhân, Giấy khám sức khỏe, Giấy xác nhận tạm trú; Giấy sao y chứng minh nhân dân; Giấy sao y giấy phép lái xe; Đơn xin xác nhận tạm trú) . Sau đó, bị cáo lên mạng xã hội facebook trang “Lái xe Cát Lái” biết Công ty V Thịnh tuyển nhân viên tài xế nên ngày 03/8/2023, bị cáo nộp toàn bộ hồ sơ xin việc giả, giấy phép lái xe hạng FC giả, căn cước công dân mang tên giả là Bùi Văn C1 và ký Hợp đồng thử việc số 08/HĐLĐ TV-VTT ngày 03/8/2022 giữa bà Lê Thị Hồng H3 (Giám đốc)- Bùi Văn C1, chức danh công việc: nhân viên tài xế xe cont; ngày 04/8/2022, Công ty V (đại diện là anh Bùi Văn N) giao cho bị cáo 01 xe đầu kéo biển kiểm soát 50H-067.75 quản lý để thuận tiện trong quá trình điều động công việc khi bị cáo làm việc tại Công ty V. Vào ngày 07/8/2022 (ngày chủ nhật), mặc dù bị cáo không có sự điều động của Công ty V nhưng bị cáo vào bãi xe của Công ty V Thịnh số H N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh điều khiển xe đầu kéo biển kiểm soát 50H-067.75 đến Tiệm vá vỏ xe Phúc địa chỉ số L C N, khu phố C, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do anh Nguyễn Thành P1 làm chủ gặp nhân viên của tiệm là bị cáo Huỳnh Công Q bán cho bị cáo Q 218 lít dầu DO trong bình chứa nhiên liệu của xe đầu kéo biển kiểm soát 50H-067.75 với giá 3.720.000 đồng. Sau đó, bị cáo điều khiển xe đầu kéo biển kiểm soát 50H-067.75 về lại bãi xe và tự ý nghỉ việc. Ngày 25/8/2022, bị cáo bị Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh bắt giữ;
Căn cứ Kết luận giám định số 5537/ ngày 28/10/2022 của Phòng K- Công an Thành phố H kết luận:
- 04 (bốn) tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2, A7, A8 (đã nêu ở mục II.1) là giả.
- Không đủ cơ sở kết luận giám định 04 (bốn) tài liệu cần giám định ký hiệu từ A3 đến A6 (đã nêu ở mục II.1) là thật hay giả do không có mẫu so sánh tương ứng.
Căn cứ vào Kết luận giám định số 13086/KL-KTHS ngày 30/11/2023 của Phòng K- Công an Thành phố H kết luận:
- Hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D PHƯỜNG LONG BÌNH T.P BIÊN HÒA T. ĐỒNG NAI*” trên 04 (bốn) tài liệu cần giám định ký hiệu A3, A4, A6, A9 (đã nêu ở mục II.1) so với hình dấu tròn của UBND phường L trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 (đã nêu ở mục II.2) do cùng một con dấu đóng ra.
- Hình dấu tròn có nội dung “TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ * SỞ Y TẾ TỈNH ĐỒNG NAI” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A5 (đã nêu ở mục II.1) so với hình dấu tròn của Trung tâm Y tế thành phố B - Sở Y tế tỉnh Đ trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2 (đã nêu ở mục II.2) không phải do cùng một con dấu đóng ra.
- Không đủ cơ sở kết luận chữ ký mang tên Trần Văn T1 trên 03 (ba) tài liệu cần giám định ký hiệu A4, A6, A9 (đã nêu ở mục II.1) so với chữ ký của Trần Văn T1 trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 (đã nêu ở mục II.2) có phải do cùng một người ký ra.
- Không đủ cơ sở kết luận chữ ký mang tên Nguyễn Thị Phương T2 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A5 (đã nêu ở mục II.1) so với chữ ký của Nguyễn Thị Phương T2 trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2 (đã nêu ở mục II.2) có phải do cùng một người ký ra hay không.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, thực hiện với quyết tâm cao, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất tình hình trật tự trị an tại địa phương, bị cáo thuê người khác làm giả bộ hồ sơ xin việc, giấy phép lái xe ô tô hạng FC và căn cước công dân mang tên Bùi Văn C1 để sử dụng xin việc làm nhân viên tài xế của Công ty V, bị cáo sử dụng các tài liệu giả thực hiện hành vi tội phạm nghiêm trọng. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lý An B phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Hành vi phạm tội “Tham ô tài sản”;
Căn cứ vào Hợp đồng thử việc số 08/HĐLĐ TV-VTT ngày 03/8/2022 giữa bà Lê Thị Hồng H3 (chức vụ: Giám đốc) với Bùi Văn C1, chức danh công việc: nhân viên tài xế xe cont, bị cáo được Công ty V Thịnh giao việc quản lý chiếc xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 50H- 067.75 trong thời gian bị cáo làm việc tại Công ty V;
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2019 quy định Giải thích từ ngữ:
“Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, bao gồm:
...
đ) Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó;
Bản Kết luận định giá tài sản số 172KV1- KLĐG- HĐĐGTS ngày 23/8/2022 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận thời điểm ngày 07/8/2022, 01 lít dầu DO có giá bán là 23.900 đồng, 06 can dầu DO có 218 lít dầu tổng giá trị là 5.210.200 đồng;
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng cho xã hội, thực hiện với quyết tâm cao, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của pháp nhân được pháp luật bảo vệ; trong thời gian bị cáo làm việc tại Công ty V được giao quản lý xe đầu kéo biển kiểm soát 50H-067.75 nhưng bị cáo đã lợi dụng sự quản lý không chặt chẽ của Công ty V trong việc quản lý xe đầu kéo nên bị cáo đã chiếm đoạt 218 lít đầu DO trong thùng nhiên liệu của đầu kéo biển kiểm soát 50H-067.75, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 5.210.200 đồng. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận bị cáo Lý An B phạm tội “Tham ô tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[2.2] Đối với hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Công Q:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Công Q khai nhận vào khoảng 12 giờ ngày 07/8/2022, bị cáo Lý An B điều khiển xe đầu kéo biển kiểm soát 50H-067.75 đến Tiệm vá vỏ xe Phúc bán cho bị cáo 218 lít dầu DO trong bình chứa nhiên liệu của xe đầu kéo biển kiểm soát 50H-067.75 với số tiền 3.720.000 đồng; bị cáo Q biết rõ số dầu trên do bị cáo B phạm tội mà có nhưng vì ham lợi nên đã mua để tiêu thụ kiếm lời nhưng bị cáo chưa kịp tiêu thụ; ngày 25/8/2022, bị Công an phường T, thành phố T, thành phố T kiểm tra và thu giữ toàn bộ 218 lít dầu DO;
Như vậy, căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo, được xác định phù hợp với lời khai của bị cáo Lý An B, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tang vật chứng thu giữ được. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Huỳnh Công Q phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý nhà nước đối với quyền sở hữu tài sản của pháp nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất tình hình an ninh trật tự trị an tại địa phương, tài sản mà bị cáo tiêu thụ là 218 lít dầu DO, trị giá 5.210.200 đồng. Đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại khoản 1 của điều luật đã viện dẫn;
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lý An B đã bị kết án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm- đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, cần có mức án nghiêm khắc để răn đe, cải tạo và giáo dục đối với bị cáo;
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; mẹ ruột của bị cáo B là bà Nguyễn Thị Ngọc H tự nguyện trả lại số tiền 5.000.000 đồng cho Công ty V đã ứng cho bị cáo khi vào làm việc; bị cáo Q phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt; Công ty V có đơn xin bãi nại cho bị cáo Q; tài sản chiếm đoạt 218 lít dầu DO đã được thu hồi và trả lại cho nguyên đơn dân sự Công ty V. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; giảm cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu (riêng bị cáo Q áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán- Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán- Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán- Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Xét thấy; bị cáo Huỳnh Công Q bị xử phạt tù không quá 03 năm, có nhân thân tốt, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử quyết định không cần cách ly bị cáo Q ra khỏi xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục và cải tạo bị cáo Q;
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Công ty V đã nhận lại toàn bộ 218 lít dầu DO mà bị cáo B chiếm đoạt; đồng thời, mẹ ruột của bị cáo B là bà Nguyễn Thị Ngọc H tự nguyện trả lại số tiền 5.000.000 đồng cho Công ty V đã ứng cho bị cáo B khi vào làm việc. Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền cho Công ty V T là ông Nguyễn Ngọc P không yêu cầu bị cáo B có nghĩa vụ bồi thường trách nhiệm dân sự đối với Công ty V, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của Công ty V;
Hộ kinh doanh cầm đồ 660 do bà Huỳnh Thị H4 làm chủ hộ kinh doanh nhưng ngày 14/6/2021 sang nhượng cho ông Trần Quang H5, vào ngày 18/7/2022, ông H5 có cầm cố của bị cáo B 01 giấy phép lái xe hạng FC và căn cước công dân đều mang tên Lý An B số tiền 2.500.000 đồng. Ông H5 không yêu cầu bị cáo B có nghĩa vụ trả lại số tiền nêu trên, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông H5;
[5] Về vật chứng vụ án:
- - 01 USB bên trong chứa nhật ký hành trình, phần mềm quản lý nhiên liệu xe đầu kéo biển kiểm soát 50H- 067.75 trong ngày 07/8/2022, chứng cứ này liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo B nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án;
- - 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Bùi Văn C1, sinh năm 1984; HKTT: Ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai; 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng FC số [...] mang tên Bùi Văn C1, sinh năm 1984; HKTT: Ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai; tài liệu trích xuất nhật ký hành trình, nhật ký tiêu thụ nhiên liệu của xe đầu kéo biển kiểm soát 50H-067.75 trong ngày 07/8/2022; 01 bộ hồ sơ xin việc (gồm có: đơn xin việc làm, Sơ yếu lý lịch cá nhân, giấy khám sức khỏe, giấy xác nhận tạm trú, giấy sao y CMND, đơn xin xác nhận hạnh kiểm mang tên Bùi Văn C1, sinh năm 1984)- các vật chứng nêu trên liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo B nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án;
- - 01 căn cước công dân mang tên Lý An B và 01 Giấy phép lái xe hạng FC số [...] mang tên Lý An B- vật chứng không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo Lý An B;
[6] Về thu lợi bất chính: Bị cáo Bình bán 218 lít dầu DO chiếm đoạt của Công ty V cho bị cáo Q được số tiền 3.720.000 đồng. Xét thấy, số tiền trên do bị cáo phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử quyết định buộc bị cáo B nộp lại số tiền 3.720.000 đồng để sung quỹ Nhà nước;
[7] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
* Đối với Nguyễn Thành P1- chủ tiệm vá vỏ xe P1 khai nhận: bị cáo Q có mối quan hệ bà con với anh P1 nên việc vá vỏ xe ở tiệm, anh P1 giao cho bị cáo Q quản lý, bị cáo Q mua 218 lít dầu DO của bị cáo B số tiền 3.720.000 đồng thì anh P1 không biết, 02- 03 ngày thì anh P1 đưa cho bị cáo Q số tiền 1.000.000 đồng để bị cáo Q thối tiền vá vỏ xe cho khách hàng, anh P1 không đưa tiền cho bị cáo Q dùng để mua dầu của các tài xế. Hội đồng xét xử đã Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 455/2023/HSST-QĐ ngày 28/9/2023 và Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 34/2024/HSST- QĐ ngày 24/01/2024 để điều tra bổ sung làm rõ hành vi của anh P1 nhưng không có căn cứ xử lý anh P1 là đồng phạm với bị cáo Q về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
* Đối với hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức: Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T đã có Quyết định tách vụ án hình sự số 27/QĐ- ĐTTH ngày 03/8/2023; Hội đồng xét xử đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý theo quy định pháp luật.
* Đối với anh Bùi Văn C1, sinh năm: 1984, địa chỉ thường trú: ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T xác minh hiện nay anh Bùi Văn C1 không tạm trú, thường trú tại địa phương. Hiện không có mặt tại địa phương, không rõ chuyển đến nơi đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T không thể lấy lời khai của anh C1 về nội dung vụ án;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố:
- - Bị cáo Lý An B phạm tội “Tham ô tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;
- - Bị cáo Huỳnh Công Q phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có";
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 353; điểm d khoản 2 Điều 341; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + 01 (một) căn cước công dân mang tên Lý An B;
- + 01 (một) giấy phép lái xe hạng FC số [...] mang tên Lý An B;
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, nguyên đơn dân sự Công ty cổ phần V; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành P1 có quyền kháng cáo bản án xin xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết hợp lệ.
Xử phạt: Bị cáo Lý An B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tham ô tài sản” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Lý An B phải chấp hành chung là: 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/8/2022;
Căn cứ vào Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán- Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán- Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán- Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Công Q 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 09/8/2024;
Giao bị cáo Huỳnh Công Q cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Huỳnh Công Q thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019;
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo;
- Trả lại cho bị cáo Lý An B:
(02 vật chứng này lưu giữ trong hồ sơ);
- Buộc bị cáo Lý An B nộp lại số tiền thu lợi bất chính số tiền 3.720.000 (Ba triệu, bảy trăm hai mươi ngàn) đồng để sung quỹ nhà nước;
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
(Đã giải thích chế định án treo)
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thúy Nga |
Bản án số 376/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội tham ô tài sản, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 376/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tham ô tài sản, Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tham ô tài sản, Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
