TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 376/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 07/9/2024
V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Luyện
2. Bà Bùi Thị Hảo
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xiêm – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 132/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXX-ST ngày 02/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2024/QÐST ngày 20 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Ái V, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số nhà A Chung cư H, tổ B, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Anh Ngô Tiến T, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số nhà A Chung cư H, tổ B, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội.
(Chị V xin vắng mặt. Anh T xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/4/2024 và các lời khai tại Tòa, Chị Ngô Thị Ái V trình bầy: Tôi xây dựng gia đình với anh Ngô Tiến T trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định ngày 22/7/2007. Sau khi kết hôn chúng tôi chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm thấy tiếng nói chung, cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc. Tuy sống chung một nhà ăn chung, ngủ chung nhưng không ai quan tâm đến ai. Do tính chất công việc nên vợ chồng gần như không gặp mặt nhau hàng ngày. Cuộc sống chung vợ chồng như vậy rất căng thẳng không có hạnh phúc vì anh T luôn nghi ngờ tôi không chung thủy nên cuộc sống vợ chồng rất căng thẳng. Hai bên nội ngoại cũng khuyên hai vợ chồng thông cảm và hiểu nhau để cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng chúng tôi không thể cố gắng được. Giữa hai vợ chồng tôi với hai bên nội ngoại đều không có mâu thuẫn gì. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn và tôi xin được ly hôn.
Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là cháu Ngô Tiến Q, sinh ngày 08/8/2008 và cháu Ngô Tiến M sinh ngày 29/6/2015. Khi ly hôn nguyện vọng của tôi là được nuôi cả hai con, do từ khi sinh 2 cháu ra, tôi là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 2 cháu. Nếu tôi được nuôi cả hai cháu thì tôi yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung 5.000.000đ/tháng cho cả 2 con. Tôi không đồng ý cho anh T nuôi cả 2 con chung do từ trước đến nay, anh T không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 2 con mà chỉ hỗ trợ kinh tế cho tôi trong việc nuôi 2 con. Mọi việc chăm sóc, nuôi dưỡng, học hành của 2 con đều do tôi đảm nhiệm. Nếu phải lựa chọn thì tôi xin được nuôi cháu Ngô Tiến M vì cháu còn nhỏ, cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của mẹ. Cháu Ngô Tiến Q mà ở với bố thì cũng tự chăm sóc được bản thân khi bố cháu đi làm ăn xa vì cháu đã lớn.
Về tài sản chung: Chúng tôi tự thỏa thuận, tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Ngoài ra tôi không có ý kiến gì khác.
Bị đơn anh Ngô Tiến T trình bầy: Tôi xây dựng gia đình với chị Ngô Thị Ái V trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định ngày 22/7/2007. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân cũng không có gì lớn, chỉ vì vợ chồng cố gắng mua xe để đi lại cho đỡ vất vả, nhưng từ khi mua xe, vợ tôi cũng có biểu hiện không lành mạnh với người dạy lái xe, tôi hỏi thì vợ tôi không thừa nhận, thêm việc mua xe kinh tế có khó khăn hơn nên tôi quyết định đi làm ăn xa để có thêm thu nhập. Cô V cũng đồng ý. Khi tôi đi làm ăn xa thì cô V lại có ý định ly hôn, tôi cũng đã nứu kéo nhiều lần nhưng không được. Hai bên nội ngoại cũng khuyên hai vợ chồng thông cảm và hiểu nhau để cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng chúng tôi không thể cố gắng được. Giữa hai vợ chồng tôi với hai bên nội ngoại đều không có mâu thuẫn gì. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nhưng do quan điểm sống của hai vợ chồng có bất đồng và không giải quyết được nên tôi đồng ý thuận tình ly hôn theo ý của vợ tôi.
Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là cháu Ngô Tiến Q, sinh ngày 08/8/2008 và cháu Ngô Tiến M, sinh ngày 29/6/2015. Khi ly hôn nguyện vọng của tôi là được nuôi cả hai con. Nếu tôi được nuôi cả hai cháu thì tôi không yêu cầu cô V phải có nghĩa vụ cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung. Tôi không đồng ý cho chị V nuôi con chung.
Từ khi lấy chị V, tôi ở đơn vị quân đội thì tôi phải đi làm nên thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ngô Tiến Q từ khi cháu còn bé đến giờ đều do mẹ cháu là chị V và hai bên gia đình nội ngoại chăm sóc, nuôi dưỡng. Năm 2010 tôi chuyển công tác ra ngoài miền B cũng có thời gian chăm con, chơi với con nhưng cũng không có nhiều thời gian chăm sóc con. Còn cháu Ngô Tiến M từ khi sinh ra năm 2015, từ thời điểm đó đến năm 2017 hàng tháng tôi vẫn về thăm con, chơi với con. Năm 2017 tôi về hưu, lúc đó kinh tế của 2 vợ chồng đang khó khăn, 2 vợ chồng nhất trí tôi đi làm xa vào miền N để cải thiện kinh tế từ năm 2017 đến năm 2021. Trong thời gian đó cứ 2 tháng tôi về thăm các con một lần. Từ năm 2022 trở về đây, tôi ra ngoài miền B để chăm sóc các con và đưa đón các con đi học. Tháng 9 năm 2023, vợ chồng tôi mua xe ô tô để phục vụ nhu cầu của gia đình, sau đó kinh tế gia đình lại khó khăn, vợ chồng tôi lại thống nhất tôi lại đi làm xa ở miền N, không có thời gian chăm sóc con cái. Trong thời gian đi làm xa tôi đều gửi tiền về cho chị V để phụ giúp gia đình trong việc nuôi dậy con cái. Từ tháng 10,11/2023 đến tháng 3/2024 chị V chỉ nhận lương hưu của tôi và không nhận các khoản thu nhập khác do vợ chồng mâu thuẫn.
Hiện nay, tình cảm của tôi và cháu Ngô Tiến Q không được tốt, cháu không có thiện cảm tốt với tôi và bên họ nội của cháu. Tôi chỉ biết cháu đang học lớp 10 Trường THPT T3, quận L, thành phố Hà Nội, còn học lớp nào, cô giáo chủ nhiệm tên là gì tôi không nắm được.
Còn cháu Ngô Tiến M có tình cảm tốt với tôi, cháu học lớp 3A4, trường tiểu học L, quận L, thành phố Hà Nội, còn cô giáo chủ nhiệm tên là gì tôi cũng không nắm rõ. Những thông tin liên quan đến 2 cháu về việc học tập ở trường tôi cũng không nắm rõ mà chỉ thông qua vợ tôi, tôi cũng chưa bao giờ liên lạc với nhà trường liên quan đến 2 con tôi.
Hiện nay, tôi đã nghỉ hưu, lương hưu là 8.000.000đ/tháng, và khoản thu nhập do tôi đi làm xa tại miền N là khoảng 10.000.000đ/tháng. Nếu tôi được nuôi cả 2 con, tôi sẽ chuyển ra miền B ở và chạy xe grap, thu nhập cố gắng được 10.000.000đ/tháng. Nếu được nuôi cả 2 con, tôi và các cháu sẽ ở tại số nhà A Chung cư H, tổ B, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội. Đây là tài sản chung của vợ chồng tôi và chúng tôi chưa thống nhất thỏa thuận được.
Về tài sản chung: Chúng tôi tự thỏa thuận, tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Ngoài ra tôi không có ý kiến gì khác.
Tại phiên tòa:
Chị V có đơn xin xử vắng mặt nên không có ý kiến.
Anh T vắng mặt lần 2:
Tại phiên tòa đại diện VKS phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi Tòa thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử chấp hành và thực hiện tốt các quy định của pháp luật. Các đương sự: Nguyên đơn chấp hành tốt các quy định của pháp luật từ khi thụ lý đến trước khi có quyết định xét xử. Bị đơn chưa chấp hành tốt các quy định của pháp luật.
Về nội dung: Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự tại phiên tòa: Đề nghị Tòa án căn cứ các Điều 19, 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Đề nghị Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Thị Ái V. Chị Ngô Thị Ái V được ly hôn anh Ngô Tiến T. Về con chung: Xác định anh chị có 02 con chung là cháu Ngô Tiến Q, sinh ngày 08/8/2008 và cháu Ngô Tiến M, sinh ngày 29/6/2015. Đề nghị giao cả hai con chung cho chị V nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là 5.000.000/2 cháu. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Ngô Thị Ái V có đơn xin ly hôn anh Ngô Tiến T gửi tại Tòa án nhân dân quận Long Biên. Hiện anh T có hộ khẩu thường trú tại phường N, quận L, Thành phố Hà Nội. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Long Biên. Chị V có đơn xin xử vắng mặt. anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng đều vắng mặt. Do vậy Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị V và anh T1 theo quy định tại Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Ái V xây dựng gia đình với anh Ngô Tiến T trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn UBND xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định ngày 22/7/2007. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng không tin tưởng nhau. Chị V đề nghị được ly hôn, anh T không đồng ý ly hôn. HĐXX nhận thấy: Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai anh T đồng ý ly hôn nhưng sau đó anh T không đồng ý ly hôn và chấp nhận pháp quyết của Tòa án. Bản thân anh T cũng thấy rằng quan điểm sống của hai vợ chồng có bất đồng và không giải quyết được. Anh mong muốn muốn giữ gìn gia đình để cùng chung tay xây đắp nuôi dạy con đang đến tuổi phát triển để chúng phát triển tốt nhất trong một gia đình có đầy đủ cả bố và mẹ nhưng lại không có giải pháp hằn gắn. Do vậy HĐXX chấp nhận đơn ly hôn của chị Ngô Thị Ái V theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Ngô Tiến Q, sinh ngày 08/8/2008 và cháu Ngô Tiến M, sinh ngày 29/6/2015. Khi ly hôn cả hai đều có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung. Hội đồng xét xử nhận thấy: Giao con cho ai nuôi cũng phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các con. Từ trước đến nay hai cháu đều do chị V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh T cũng thừa nhận do công việc nên ít có thời gian chăm sóc con. Anh T có ý kiến: Nếu các con có nguyện vọng ở với mẹ anh cũng không có ý kiến gì, anh cũng không muốn tách các cháu ra. Có thể tôi nuôi con trên giấy tờ cũng được còn các cháu vẫn cứ ở với mẹ, thứ bảy chủ nhật tôi về đón các con đi chơi. Như vậy thể hiện anh T không tha thiết, mong muốn được nuôi con. Do vậy thấy cần giao cả hai con chung cho chị V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của các con. Hiện anh T có lương hưu là 8.000.000 đồng/ tháng và hiện có đi làm thêm, không phải hỗ trợ nuôi bố mẹ. Do vậy thấy có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của chị V yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung 5.000.000/tháng cho hai cháu.
Về tài sản chung: Chị V và anh T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Do vậy HĐXX không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị V và anh T xác định không có nợ chung.
Về án phí: Chị V phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 5; Anh T2 phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 6 của điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 19; 56; 81; 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình
Căn cứ điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Luật thi hành án.
Xử: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Ngô Thị Ái V
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Ái V, sinh năm 1981 được ly hôn với anh Ngô Tiến T, sinh năm 1973.
Về con chung: Xác định anh chị có 02 con chung là cháu Ngô Tiến Q, sinh ngày 08/8/2008 và cháu Ngô Tiến M, sinh ngày 29/6/2015. Giao cháu Q và cháu M cho chị V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung cho chị V 5.000.000/tháng cho hai con (mỗi con 2.500.000 đồng) cho đến khi hai con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có yêu cầu mới. Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Ngô Thị Ái V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm . Chị V đã nộp tạm ứng 300.000 đồng tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Long Biên ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo LB số 0018689, nay được chuyển thành án phí. Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành an theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị V và anh T. Báo cho chị V và anh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Nơi gửi:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thu Nga |
Bản án số 376/2024/HNGĐ-ST ngày 07/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 376/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
