|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 376/2025/HS-PT Ngày: 27-5-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Vương Minh Tâm |
| Các Thẩm phán: | Ông Đặng Văn Ý |
| Ông Ngô Mạnh Cường |
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đỗ Hồng Quân, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tấn Cường, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 1030/2025/TLPT – HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Thành T, do có kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 201/2024/HS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 114/2025/QĐPT-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thành T, sinh ngày 23 tháng 01 năm 1967, tại tỉnh Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú: A4/456, KP4, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: A4/456, KP4, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Chăn nuôi; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1940 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1942; Bị cáo có vợ là Trần Thị Kiều N, sinh năm 1969 và có 06 con: lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2002.
Bị bắt tạm giam ngày 08 tháng 9 năm 2022 theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 49/LB-VPCQCSĐT ngày 04/9/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo: Luật sư Lê Xuân T1, thuộc Công ty L, Đoàn luật sư Thành phố H; Địa chỉ: Số B T, phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Bị hại:
- Ông Bùi Quốc M, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
1. Ông Bùi Văn N1, sinh năm 1941 (vắng mặt).
2. Bà Đào Thị M1, sinh năm 1948 (vắng mặt).
3. Bà Ngô Thị Kim Đ, sinh năm 1986 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Số K, khu phố E, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Bùi Quốc P, sinh năm 1978 (vắng mặt).
2. Ông Bùi Quốc B, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số K, khu phố E, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 09/5/2021, sau khi đi kiểm tra xe máy cuốc của mình đang gửi tại bãi đất trống của nhà Nguyễn Thành T, sinh năm 1967, hộ khẩu thường trú: A4/456, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, anh Hàng Thành C, sinh năm 1980, hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai điều khiển xe mô tô đi về. Khi ra tới đầu cổng nhà T thì anh C được bạn là Bùi Quốc P, sinh năm 1978 và Bùi Quốc B, sinh năm 1980 (hộ khẩu thường trú: Khu phố E, phường B, thành phố B) gọi vào nhậu cùng tại quán N2, thuộc khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Lúc này, trong quán có P, B, Bùi Quốc M, sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú: K3/97, khu phố E, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (là em trai của P và B) cùng một số người bạn của P và B gồm các anh Nguyễn Văn T2, Lư Minh T3 (cùng ngụ tại: khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai). Trong quá trình nhậu, M mời anh C cụng ly nhưng anh C từ chối nên giữa hai người xảy ra mâu thuẫn cãi nhau thì được mọi người can ngăn. Anh C đứng dậy lấy xe ra về thì bị M chạy đuổi theo sau nên anh C điều khiển xe chạy thẳng vào khu vực hồ cá nhà Nguyễn Thành Trương . Do đuổi theo không kịp nên M quay lại quán nhậu lấy xe mô tô đuổi theo anh C, còn P và B chạy bộ phía sau M. Thấy vậy, con gái của T là Nguyễn Thị Kiều D la lên: “Ba ơi, có ai chạy vào đất nhà mình đánh nhau” thì Trương đi từ trong nhà ra gặp M, P và B đang chạy hướng từ ngoài đường vào hồ cá nhà mình đuổi theo anh C. Do Trương nhận ra P và anh C đều là người quen nên Trương giang hai tay ra can ngăn không cho P, B, M đuổi theo đánh anh C và nói: “Tụi bay nhậu chung hoài sao đi đánh lộn”. Minh đáp lại: “Mày là thằng nào tao quýnh chết mẹ mày giờ”, còn M và B xô Trương ngã xuống đất. Nhìn thấy cha mình bị xô ngã, D vào can ngăn thì bị B xô ngã gây trầy xước chân. Sau đó, M, B, P lao vào đánh anh C. Nhìn thấy con gái mình bị xô ngã và trầy xước chân, T bực tức nên nhặt một cây tre đang để cạnh chậu hoa gần đó đập 01 cái vào cung mày trái của M làm M té ngã xuống đất. Sau đó, mọi người can ngăn và đưa M đi cấp cứu.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 27/22/TgT ngày 25/3/2022 của V - Phân viện tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận đối với tổn thương của Bùi Quốc M như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo kích thước nhỏ vùng cung mày trái.
- Liệt mức độ vừa ½ người phải.
- Liệt dây VII trung ương phải.
- Rối loạn nặng ngôn ngữ dạng B1 và W.
2. Kết luận:
- Tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Bùi Quốc M là 89%.
- Thương tích vùng trán của nạn nhân Bùi Quốc M là do vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên.
* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số 209BS/22/TgT ngày 22/11/2022 của V - Phân viện tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận đối với tổn thương của Bùi Quốc M như sau:
- Thương tích vùng trán trái do vật tày có cạnh tác động trực tiếp theo hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải theo cơ thể nạn nhân gây ra.
- Việc dùng cây gậy tre (mẫu vật gửi giám định) có đặc điểm nêu trên đánh anh Bùi Quốc M vào đầu gây chấn thương như trong Bản kết luận giám định về thương tích số 27/22/TgT ngày 25/3/2022 của P1 tại Thành phố Hồ Chí Minh có nguy hiểm đến tính mạng và có thể dẫn tới việc anh Bùi Quốc M tử vong nếu không được điều trị và cấp cứu kịp thời.
Vật chứng thu giữ: 01 cây tre dài khoảng 01 mét, đường kính đầu nhỏ 2,7cm, đường kính đầu lớn 03cm.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và truy tố, đại diện bị hại Bùi Quốc M yêu cầu bị cáo Nguyễn Thành T bồi thường tổng số tiền 574.235.919 đồng.
* Tại Cáo trạng số 25/CT-VKS-P2 ngày 17 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 và Điều 15 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 201/2024/HS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thành T đã phạm tội “Giết người”.
Căn cứ theo khoản 2 Điều 123; Điều 15; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 9 năm 2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
Ngày 24/9/2024, đại diện hợp pháp của bị hại là bà Ngô Thị Kim Đ kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt và tăng thêm số tiền bồi thường đối với bị cáo.
Ngày 01/10/2024, bị cáo Nguyễn Thành T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 18/10/2024, bị cáo Nguyễn Thành T có đơn kháng cáo bổ sung, kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại tội danh, vì bị cáo chỉ cầm khúc tre quơ đại trúng vào vùng trán của bị hại, việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo tội giết người và phạt 7 năm tù là oan cho bị cáo. Đại diện hợp pháp của bị hại là bà Ngô Thị Kim Đ có ý kiến tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện bị hại đã rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu kháng cáo của đại diện bị hại.
Đối với kháng cáo của bị cáo, ban đầu bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, sau đó chuyển sang kêu oan. Theo hồ sơ vụ án thể hiện và tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận có dùng cây tre đánh một cái vào cung mày trái của bị hại. Bị cáo cho rằng chỉ quơ đại trúng vào bị hại là không có căn cứ, vì Kết luận giám định đã xác định rõ việc dùng cây tre đánh vào vùng đầu của anh Bùi Quốc M sẽ nguy hiểm đến tính mạng và có thể dẫn tới việc anh M tử vong nếu không được điều trị và cấp cứu kịp thời. Tòa sơ thẩm xử bị cáo về tội “Giết người” là có căn cứ,
mức án 7 năm tù là phù hợp. Bị cáo kêu oan nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ y bản án sơ thẩm đã xét xử.
- Bị cáo Nguyễn Thành T trình bày: Sau khi anh M đi cấp cứu, bị cáo có lên Bệnh viện C2 thăm và có đưa cho gia đình bị hại số tiền 10 triệu đồng. Phía gia đình bị hại cho rằng anh M nằm liệt tại chỗ là không đúng, vì anh M vẫn đi dự phiên tòa sơ thẩm và leo lên lầu bình thường. Kết luận giám định cho rằng thương tích của anh M là 89% là không chính xác, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
- Luật sư Lê Xuân T1 bào chữa cho bị cáo trình bày: Án sơ thẩm xét xử bị cáo Trương tội “Giết người” là không có căn cứ, vì giữa bị cáo và anh M là không có mâu thuẫn. Sự việc xảy ra là có lỗi của người bị hại, vì trong hoàn cảnh đêm tối, anh M và nhiều người khác chạy vào khu nhà của bị cáo đánh nhau. Bản thân bị cáo chỉ can ngăn nhưng bị anh M tấn công, con gái của bị cáo cũng bị anh M xô ngã làm bị cáo phải phản kháng lại. Theo Án lệ số 47 thì cần xem xét tính chất mức độ mà hành vi của bị cáo gây ra, trong sự việc này, hành vi của bị cáo Trương C1 là phản kháng lại. Trong hồ sơ vụ án, Kết luận giám định chưa được làm rõ và có nhiều mâu thuẫn. Luật sư cũng đã có yêu cầu Tòa án sơ thẩm triệu tập giám định viên nhưng họ không tham gia phiên tòa. Án sơ thẩm xét xử bị cáo Trương tội “Giết người” là chưa có căn cứ. Bởi vì cơ thể bị hại M còn có tổn thương do tai nạn giao thông và tổn thương do bệnh lý. Vấn đề này chưa được tách bạch rõ ràng mà cộng dồn tất cả lại thành tỷ lệ 89% là không phù hợp. Từ các phân tích trên cho thấy án sơ thẩm có nhiều mâu thuẫn chưa được làm rõ, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ để điều tra, xét xử lại.
Trong phần tranh luận, các bên có ý kiến như sau:
- Đại diện Viện kiểm sát: Tại phiên tòa bị cáo cũng đã thừa nhận có dùng cây tre đánh bị hại. Việc giám định được thực hiện bởi cơ quan chuyên môn có thẩm quyền, kết luận giám định là hoàn toàn phù hợp, đúng quy định pháp luật. Luật sư cho rằng hành vi của bị cáo chỉ là phản kháng lại là không đúng.
- Luật sư T1: Luật sư đã nêu ra những mâu thuẫn chưa được làm rõ, ngoài ra trong kết luận giám định có nêu việc anh Bùi Quốc M có thể tử vong nếu không được điều trị và cấp cứu kịp thời. Nhưng thực tế thời điểm xảy ra sự việc, những người ở đó chỉ sơ cứu anh M, rửa vết thương, hoàn toàn không có thiết bị cấp cứu hay kiến thức chuyên môn để cấp cứu kịp thời. Vấn đề này cũng chưa được làm rõ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, hủy bản án sơ thẩm.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo bị oan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại làm trong hạn luật định nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tố tụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại là bà Ngô Thị Kim Đ có ý kiến tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại:
[3.1] Về tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thành T kêu oan, bị cáo thừa nhận đã thực hiện những hành vi như bản án sơ thẩm đã quy kết nhưng cho rằng bị cáo không phạm tội “Giết người”. Căn cứ vào lời khai thừa nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra vụ án, lời khai của bị hại, lời khai của những người làm chứng, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở để xác định:
Ngày 09/5/2021, tại khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, trong lúc đứng ra can ngăn để 03 anh em Bùi Quốc P, Bùi Quốc B, Bùi Quốc M không đánh nhau với anh Hàng Thành C, bị cáo Nguyễn Thành T đã bị M và B xô ngã. Đồng thời, Trương nhìn thấy con gái Nguyễn Thị Kiều D vào can ngăn cũng bị B xô ngã, nên T đã dùng cây tre đánh một cái trúng vào cung mày trái của Bùi Quốc M làm M té ngã xuống đất. Sau đó, mọi người can ngăn và đưa M đi cấp cứu.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 27/22/TgT ngày 25/3/2022 của V - Phân viện tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận đối với tổn thương của Bùi Quốc M: “Tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Bùi Quốc M là 89%. Thương tích vùng trán của nạn nhân Bùi Quốc M là do vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên”.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số 209BS/22/TgT ngày 22/11/2022 của V - Phân viện tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận đối với tổn thương của Bùi Quốc M: “Thương tích vùng trán trái do vật tày có cạnh tác động trực tiếp theo hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải theo cơ thể nạn nhân gây ra. Việc dùng cây gậy tre (mẫu vật gửi giám định) có đặc điểm nêu trên đánh anh Bùi Quốc M vào đầu gây chấn thương như trong Bản kết luận giám định về thương tích số 27/22/TgT ngày 25/3/2022 của P1 tại Thành phố Hồ Chí Minh có nguy hiểm đến tính mạng và có thể dẫn tới việc anh Bùi Quốc M tử vong nếu không được điều trị và cấp cứu kịp thời”.
Việc giám định được thực hiện bởi cơ quan chuyên môn có thẩm quyền do pháp luật quy định, kết luận giám định được ban hành theo đúng quy định pháp luật, phù hợp với các tình tiết khách quan của sự việc, phù hợp với vật chứng được thu giữ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo, người bào chữa của bị cáo cho rằng kết luận giám định không chính xác nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ để chấp nhận.
Xét thấy, hành vi của bị cáo T dùng cây tre là hung khí nguy hiểm đánh vào cung mày trái của nạn nhân là vùng trọng yếu trên cơ thể, có thể gây ra cái chết cho bị hại M nếu không được điều trị, cấp cứu kịp thời. Việc bị hại không chết là nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của T. Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Giết người”, quy định tại khoản 2 Điều 123 và Điều 15 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, không có oan sai.
[3.2] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thành T là nguy hiểm, xâm phạm đến sức khỏe tính mạng của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự; bị hại có phần lỗi đã đánh bị cáo và con gái của bị cáo trước; gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 200.000.000 đồng cho gia đình bị hại, được gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xác định phía bị hại có phần lỗi; bị cáo có bà ngoại là bà Đặng Thị S1 đã có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 07 (bảy) năm tù là mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên tòa.
Các lập luận trên đây cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ luận cứ của Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành Trương .
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 348, điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại là bà Ngô Thị Kim Đ.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành Trương . Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 201/2024/HS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Tuyên xử:
[1] Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thành T phạm tội “Giết người”.
Căn cứ theo khoản 2 Điều 123; Điều 15; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 9 năm 2022.
[2] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thành T phải nộp án phí hình sự phúc thẩm số tiền 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Minh Tâm |
|
Các Thẩm phán |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
| Đặng Văn Ý | Ngô Mạnh Cường | Vương Minh Tâm |
Bản án số 376/2025/HS-PT ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về giết người (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 376/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Giết người (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thành T phạm tội “Giết người”. Căn cứ theo khoản 2 Điều 123; Điều 15; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 9 năm 2022.
