Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 376/2024/HS-ST

Ngày: 08 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Huân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tùng

2. Bà Trần Thị Anh Vũ

- Thư ký Tòa phiên tòa: Ông Cao Minh Quốc Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương và ông Trần Thanh N - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 452/2024/HSST ngày 17/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3991/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Thị Trúc L; Sinh ngày: 10/7/1996, tại Lâm Đồng; Đăng ký thường trú: 3 đường Đ, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Chỗ ở: Nhà trọ số 29, Đường số E, khu dân cư Ấ, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông: Phạm Bửu L1 và bà: Nguyễn Thị L2; Chồng: Không có; Có 01 con, sinh năm: 2017; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/5/2023 – Có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thị Trúc L: Bà Trần Thị Hồng V, là Luật sư Văn phòng luật sư Trần Thị Hồng V và Cộng sự, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H - Có mặt.

- Bị hại: Trương Quốc T (đã chết).

- Người Đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Ông Trương Văn H; Sinh năm: 1958; Nơi cư trú: A, tổ A, ấp A, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Là cha ruột của bị hại – Có mặt.

2. Bà Hoàng Thị C; sinh năm: 1957; Nơi cư trú: A, tổ A, ấp A, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Là mẹ ruột của bị hại – Có đơn xin vắng mặt.

3. Chị Trương Nguyễn Thu N1; sinh năm: 2005; Nơi cư trú: A, tổ A, ấp A, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Là con ruột của bị hại – Có mặt.

4. Cháu Trương Quốc T1; sinh năm: 2008; Nơi cư trú: A, tổ A, ấp A, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Là con ruột của bị hại, do ông Trương Văn H; Sinh năm: 1958; Nơi cư trú: A, tổ A, ấp A, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện hợp pháp – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Thị Trúc L và anh Trương Quốc T sống chung như vợ chồng tại Phòng trọ số 2, Nhà T, Đường số E, khu dân cư Ấ, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2021 đến nay. L làm nghề buôn bán bánh mì, còn anh T làm nghề môi giới bán xe ô tô cũ.

Chiều ngày 07/5/2023, Phạm Thị Trúc L đi ăn uống cùng với một số người bạn đến 19 giờ cùng ngày về phòng trọ và lấy bia ra ngồi uống một mình. Trong khoảng thời gian này, anh Trương Quốc T cũng đi uống rượu bia với bạn bè đến 23 giờ anh T mới về phòng trọ. Lúc này, anh T trách L đi uống rượu bia mà không báo cho anh T biết, sau đó anh T chửi tục và dùng tay tát vào trán của L 02 đến 03 cái. L dùng tay đánh vào ngực anh T, đẩy anh T ra xa, anh T tiếp tục lấn tới dùng tay đấm vào ngực và vai của L làm L ngã xuống đất, vị trí gần khu vực bếp. Lúc này, L nhìn thấy hộp nhựa đựng dao làm bếp để dưới sàn nhà, nên L lấy 01 con dao (dạng dao Thái Lan), cán nhựa màu vàng, dài khoảng 21,5cm. L cầm dao để thấp ngang bụng, hướng về phía anh T và L nói “Mày đánh tao nữa, tao đâm mày”. L vừa nói xong thì anh T vẫn tiếp tục lao vào tát vào đầu L bằng tay phải. L cầm dao đâm vào bụng anh T, vị trí trên rốn. L đâm anh T xong thì rút con dao ra và vứt vào giỏ xách đan hình caro bằng nhựa mà L hay đựng đồ dùng bán bánh mì. Anh T bị đâm thì ôm bụng ngồi trước cửa phòng trọ, la lớn nên những người trong phòng trọ thức dậy ra xem. Sau khi đâm anh T, L gọi điện thoại cho anh Lê Quang T2 (bạn anh T), nói L đâm anh T, nhờ anh T2 chạy qua chở anh T đi bệnh viện giúp. Khoảng 05 phút sau anh T2 cùng với anh Võ Cu E (Phòng số 5, chung dãy trọ với L) nhanh chóng đưa anh T đi cấp cứu tại Bệnh viện N2. L được chị Nguyễn Thị Mỹ D (vợ anh Võ Cu E) dùng xe máy chở L vào bệnh viện để chăm sóc anh T. Đến ngày 11/5/2023 anh Trương Quốc T tử vong.

Cùng ngày 11/5/2023, L đến Công an xã P, huyện B tự thú. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án (bút lục từ số 57 đến số E, từ số 150 đến số A).

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 5037-23/KL-KTHS ngày 21/7/2023 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận:

Trương Quốc T chết do vết thương đâm thủng mạc nối lớn, ruột non, mạc treo và động - tĩnh mạch chậu chung trái (bút lục từ số 41 đến số 42).

Tại Bản kết luận giám định tử thi bổ sung số 5116-24/KL-KTHS ngày 02/5/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận:

1. Cơ chế hình thành dấu vết để lại trên tử thi:

- Vết thủng da (trên rốn kích thước 5,5cm x 1cm), là do vật sắc nhọn gây ra theo cơ chế đâm. Là nguyên nhân dẫn đến cái chết của nạn nhân Trương Quốc T.

- Các vết xây xát da, bầm tụ máu là do tác động trực tiếp với vật tày gây ra. Không là nguyên nhân dẫn đến cái chết của nạn nhân Trương Quốc T.

2. Nhận định:

- Con dao (dạng dao Thái Lan) có cán nhựa màu vàng dài khoảng 21,5cm, phần cán dài khoảng 10cm, lưỡi dao bằng kim loại, mũi nhọn có một cạnh sắc bén (Theo như hình ảnh Cơ quan CSĐT mô tả) là vật sắc nhọn có thể gây ra vết thủng da tại mục III.1.1.

- Căn cứ kết quả thực nghiệm điều tra ngày 16/4/2024 tại Trại tạm giam C1 (Cơ sở T30), kết quả khám nghiệm tử thi, hành vi của Phạm Thị Trúc L theo lời trình bày trong biên bản thực nghiệm có khả năng gây ra được vết thương trên tử thi Trương Quốc T, phù hợp với cơ chế hình thành vết thương (bút lục từ số 177 đến 178).

Vật chứng, tài liệu vụ án:

  • - 01 con dao bằng kim loại dài 21,5cm, có cán nhựa màu vàng dài 10cm (dạng dao Thái Lan);
  • - 01 giỏ xách đan bằng nhựa hình caro nhiều màu;
  • - 01 bộ đồ ngủ màu xanh đậm (là quần áo của L mặc khi gây thương tích cho anh T).
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng.
  • - 01 đĩa ghi âm, ghi hình, ghi lại sự việc L khai nhận hành vi phạm tội (kèm hồ sơ vụ án).

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình cấp cứu và điều trị vết thương của anh Trương Quốc T tại Bệnh viện N2 mọi chi phí đều do bị can Phạm Thị T3 Linh chi trả nên ông Trương Văn H (cha anh T) và chị Trương Nguyễn Thu N1 (sinh năm 2005, là con anh T) không yêu cầu bồi thường dân sự. Ngày 10/7/2023, ông Trương Văn H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can Phạm Thị Trúc L (bút lục từ số 51 đến số E).

Tại bản Cáo trạng số 347/CT-VKS-P2 ngày 11/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Thị Trúc L về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

* Tại phiên Tòa:

- Bị cáo Phạm Thị Trúc L đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án được tóm tắt như nêu trên, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu lời luận tội, giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Phạm Thị Trúc L. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 2 Điều 123, các điểm b, r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Thị Trúc L từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Giết người”. Về dân sự ghi nhận Đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất các biện pháp xử lý vật chứng.

- Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Trương Văn H và chị Trương Nguyễn Thu N1 không yêu cầu bị cáo L bồi thường, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can Phạm Thị Trúc L.

- Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa như sau: Không có ý kiến gì về tội danh và khung hình phạt mà bản Cáo trạng đã truy tố đối với Phạm Thị Trúc L. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm một số vấn đề sau: Bị cáo là mẹ đơn thân đang nuôi con sinh năm 2017, vụ án xảy ra do bị hại có một phần lỗi, là nam giới nhưng lại dùng vũ lực với bị cáo, đánh bị cáo té ngã xuống đất, tình cờ thấy có con dao làm bếp ở gần, bị cáo đã cầm lên cảnh báo để bị hại không đánh bị cáo nữa, nhưng bị hại vẫn lao vào tấn công, do không còn đường lùi nên để tự bảo vệ bị cáo mới cầm dao đâm một nhát, thấy bị hại bị thương bị cáo đã chủ động kêu người cùng với bị cáo đưa bị hại đi cấp cứu và trong suốt quá trình cứu chữa tại bệnh viện, bị cáo là người luôn ở bên chăm sóc bị hại và chi trả toàn bộ chi phí cấp cứu cũng như mai táng cho bị hại. Bị cáo nhất thời phạm tội, bị hại chết là ngoài ý muốn của bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, ngoài các tình tiết Đại diện Viện kiểm sát đã nêu như: Có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, bị hại có một phần lỗi, sau khi phạm tội bị cáo ra tự thú, tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo còn có tình tiết giảm nhẹ là phạm tội do bị hại có hành vi trái pháp luật tấn công làm cho bị cáo bị kích động về tinh thần theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, e, r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất có thể, tạo điều kiện cho bị cáo được sớm trở về nuôi con, chăm lo cho gia đình.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tranh luận:

Về tội danh, khung hình phạt cũng như các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà Luật sư nêu ra là thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, nên không có ý kiến gì khác.

Đối với đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là không có cơ sở, bởi vì bị hại chỉ đánh bị cáo bằng tay không, bị cáo có nhiều cách sử sự phù hợp nhưng không lực chọn lại dùng dao đâm bị hại, nên vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị.

Sau khi tranh luận đối đáp các bên vẫn giữ nguyên ý kiến, quan điểm như đã đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận của bị cáo Phạm Thị Trúc L tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người đại diện hợp pháp của bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở xác định: Phạm Thị Trúc L và anh Trương Quốc T sống chung như vợ chồng tại phòng trọ số 2, Nhà T, Đường số E, khu dân cư Á, xã P, huyện B. Khoảng 23 giờ ngày 07/5/2023 sau khi đi nhậu về, anh T và L xảy ra cải vã, anh T chửi tục và dùng tay tát vào trán của L 02 đến 03 cái. L dùng tay đánh vào ngực anh T, đẩy anh T ra xa, anh T tiếp tục lấn tới dùng tay đấm vào ngực và vai làm L té ngã xuống đất tại vị trí gần khu vực bếp. L nhìn thấy hộp nhựa đựng dao làm bếp để dưới sàn nhà, nên lấy 01 con dao (dạng dao Thái Lan) dài khoảng 21,5cm, cầm dao để thấp ngang bụng, hướng về phía anh T và nói “Mày đánh tao nữa, tao đâm mày”. L vừa nói xong thì anh T vẫn tiếp tục lao vào tát vào đầu L bằng tay phải. L cầm dao đâm vào bụng anh T, vị trí trên rốn, đâm xong L rút con dao ra và vứt vào giỏ đựng đồ trong bếp. Anh T ôm bụng ngồi trước cửa phòng trọ, L gọi điện thoại cho anh Lê Quang T2 (bạn anh T) thừa nhận L đã đâm anh T, nhờ anh T2 chở anh T đi bệnh viện cấp cứu. Sau đó L vào bệnh viện chăm sóc anh T, đến ngày 11/5/2023 anh Trương Quốc T tử vong, ngay sau khi anh T chết, cùng ngày L đến Công an xã P, huyện B đầu thú.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 5037-23/KL-KTHS ngày 21/7/2023 và Bản kết luận giám định tử thi bổ sung số 5116-24/KL-KTHS ngày 02/5/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: Trương Quốc T chết do vết thương đâm thủng mạc nối lớn, ruột non, mạc treo và động - tĩnh mạch chậu chung trái.

Vết thủng da (trên rốn kích thước 5,5cm x 1cm), là do vật sắc nhọn gây ra theo cơ chế đâm. Là nguyên nhân dẫn đến cái chết của nạn nhân Trương Quốc T.

- Con dao (dạng dao Thái Lan) có cán nhựa màu vàng dài khoảng 21,5cm, phần cán dài khoảng 10cm, lưỡi dao bằng kim loại, mũi nhọn có một cạnh sắc bén, là vật sắc nhọn có thể gây ra vết thủng da tại mục III.1.1.

Xét thấy xuất phát từ mâu thuẫn phát sinh trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, giữa bị cáo Phạm Thị Trúc L và bị hại Trương Quốc T đã xảy ra xô xát ẩu đả. Trong lúc bị anh T dùng tay chân đấm đá làm L bị té ngã xuống đất gần nơi đựng dao trong nhà bếp, L đã lấy con dao cầm trên tay cảnh báo nhưng anh T vẫn xông vào đánh, L dùng dao đâm vào bụng anh T một nhát, thấy anh T bị thương, L kêu người đến cùng đưa anh T đi cấp cứu, đến ngày 11/5/2023 anh Trương Quốc T tử vong do vết thương đâm thủng mạc nối lớn, ruột non, mạc treo và động - tĩnh mạch chậu chung trái, nên đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Thị Trúc L phạm tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Thị Trúc L thống nhất với bản Cáo trạng về tội danh, khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ về tính mạng của công dân, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bản thân bị cáo nhận thức được tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ, nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo vẫn cố ý phạm tội.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Thị Trúc L, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mới có đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Thị Trúc L tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải; bị hại cũng có một phần lỗi; sau khi phạm tội bị cáo đã tác động để gia đình cùng với bị cáo bồi thường chi trả toàn bộ chi phí cấp cứu cũng như mai táng cho bị hại, được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, như Luật sư và Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng cho bị cáo là có căn cứ, nên chấp nhận. Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Phạm Thị Trúc L, theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi đâm anh Trương Quốc T, bị cáo L đã gọi điện thoại cho anh Lê Quang T2 là bạn của anh T, thừa nhận với anh T2 bị cáo đã đâm anh T và nhờ anh T2 đưa anh T đi cấp cứu. Đến ngày 11/5/2023 sau khi anh T tử vong Linh đến Công an xã P trình báo. Như vậy hành vi phạm tội của bị cáo L bị phát hiện trước, sau đó bị cáo mới tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền, thuộc trường hợp người phạm tội đầu thú, theo điểm i khoản 1 Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên không chấp nhận đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo L.

Bị cáo và bị hại xảy ra xô xát ẩu đả qua lại cho thấy bị cáo cũng là người chủ động, tại thời điểm đó bị cáo có thể có nhiều cách sử sự phù hợp nhưng bị cáo không lựa chọn mà lại dùng dao đâm bị hại trong khi bị hại chỉ dùng tay chân để ẩu đả với bị cáo. Như vậy không thể cho rằng bị cáo phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại. Nên không có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự như đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Trương Văn H (cha anh T) và chị Trương Nguyễn Thu N1 (sinh năm 2005, là con anh T) không yêu cầu bị cáo L bồi thường về dân sự vì cho rằng quá trình cấp cứu anh Trương Quốc T tại Bệnh viện N2 mọi chi phí đều do bị can Phạm Thị T3 Linh chi trả. Ngày 10/7/2023, ông Trương Văn H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can Phạm Thị Trúc L (bút lục từ số 51 đến số E).

Tại phiên tòa, ông Trương Văn H và chị Trương Nguyễn Thu N1 khai, sau khi đâm anh T thì bị cáo L kêu người đưa anh T đi cấp cứu, các chi phí cấp cứu cũng như làm đám tang cho anh T đều do bị cáo chi trả, nên không yêu cầu bị cáo L bồi thường về dân sự. Xét thấy đây là sự tự nguyện của những người đại diện hợp pháp của bị hại, phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Về xử lý vật chứng:

Vật chứng của vụ án gồm có:

  • - 01 con dao bằng kim loại dài 21,5cm, cán nhựa màu vàng nhạt dài 10cm dạng dao Thái Lan; 01 giỏ xách đan bằng nhựa hình caro nhiều màu; 01 bộ đồ ngủ màu xanh đậm (là quần áo của L mặc khi gây thương tích cho anh T). Là vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng thu giữ của bị cáo L, là vật không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với 01 đĩa ghi âm, ghi hình, ghi lại sự việc L khai nhận hành vi phạm tội (được lưu giữ kèm hồ sơ vụ án), nên không đặt ra giải quyết.

[5] Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người đại diện hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào khoản 2 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Trúc L 08 (tám) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam 11/5/2023.

[2] Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo Phạm Thị Trúc L bồi thường về Dân sự

[3] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại dài 21,5cm, có cán nhựa màu vàng dài 10cm (dạng dao Thái Lan); 01 giỏ xách đan bằng nhựa hình caro nhiều màu; 01 bộ đồ ngủ màu xanh đậm;
  • - Trả cho bị cáo Phạm Thị Trúc L 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng (Imei khay sim: ...0003079, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong)

(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/466 ngày 02/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

[4] Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Phạm Thị Trúc L phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

[5] Về quyền kháng cáo:

Căn cứ khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự

Bị cáo Phạm Thị Trúc L; Người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao; (1)
  • - VKSND TP. HCM; (3)
  • - Cục THA DS TP.HCM; (1)
  • - Sở tư pháp; (1)
  • - Trại giam; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Người bào chữa; (1)
  • - Người có QL-NVLQ; (4)
  • - THA HS; (2)
  • - Phòng PV06 - CA TP. HCM; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (20) (3)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Công Huân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 376/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về giết người (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 376/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Trúc Linh giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger