|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 376/2023/HS-ST Ngày: 14-8-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đức Thụ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Lâm Danh
2. Ông Thiều Đình Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Cao Đoàn Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 454/2023/HSST ngày 16/6/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2967/2023/QĐXXST-HS ngày 20/7/2023, đối với bị cáo:
Ngô Thị H; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1985, tại: Thành phố Hải Phòng; Nơi đăng ký thường trú: L (tổ 14 cũ), phường V, quận K, thành phố Hải Phòng; Chỗ ở: không có nơi nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Ngô Xuân T, sinh năm 1947 và bà Đoàn Thị N, sinh năm 1951; Chồng: Chưa có; Con: 01 người, sinh năm 2015; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 179/2022/HSST ngày 28/9/2022 Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội xử phạt 40 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đang chấp hành hình phạt tù tại bản án này.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 26/6/2022 trong vụ án tại bản án số 179/2022/HSST ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội. Có mặt.
Bị hại: Ông Tatsuya N1, sinh năm 1963; Quốc tịch: Nhật Bản; Tạm trú: Căn hộ 1606 - khu C, số F N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 02/3/2022, Ngô Thị H đến quán K tại số G đường H, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để ăn tối. Tại đây, H gặp ông Tatsuya N1 (sinh năm 1963; Quốc tịch Nhật Bản) cũng đang ăn tối tại quán nên H chủ động làm quen, nói chuyện với ông N1. Sau khi ăn xong, trên đường cùng đi ra về thì H rủ ông N1 đi uống rượu nên ông N1 đồng ý. H và ông N1 đi bộ đến siêu thị GS25 bên trong tòa nhà M số C đường L, Quận A mua bia ngồi uống tại chỗ khoảng 30 phút thì H tiếp tục mua thêm 02 lon bia và cùng ông N1 đến trước quán C tại sảnh tòa nhà M ngồi uống nói chuyện. Sau đó, do ở ngoài ồn ào nên H và ông N1 quay lại cửa hàng GS25, H mua 01 chai rượu Vodka loại 750ml cùng uống với ông N1. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, ông N1 rủ H về căn hộ 1606 của ông tại khu C, phường B, Quận A tiếp tục uống rượu thì H đồng ý và mua thêm 01 chai rượu Vodka loại 750ml cùng 02 chai nước ngọt Sting. Tại căn hộ của ông N1, ông N1 và H tiếp tục uống rượu tại phòng khách căn hộ.
Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 03/3/2022, H vào nhà vệ sinh tắm xong đi ra thì thấy ông N1 đã ngủ say trên ghế sofa phòng khách. H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của ông N1 nên vào phòng ngủ lấy toàn bộ số tiền bên trong túi nhựa ông N1 để trên bàn làm việc trong phòng ngủ, bỏ vào túi xách của H rồi rời khỏi căn hộ, ra phố đi bộ Nguyễn H1 chơi. Khoảng 03 giờ cùng ngày, H đến đại lý thu đổi ngoại tệ, địa chỉ A đường H, phường B, Quận A kiểm tra thì biết đã trộm cắp được của ông N1 số tiền 1.000.000 Yên Nhật (gồm 100 tờ tiền mệnh giá 10.000 Yên) nên đổi ra tiền Việt Nam được 195.000.000 đồng rồi bỏ trốn.
Khoảng 11 giờ ngày 03/3/2022, ông N1 tỉnh dậy thì không thấy H, kiểm tra bên trong ví tiền để trên bàn trong phòng ngủ phát hiện mất số tiền 5.000.000 đồng, sau đó ông N1 đến công ty làm việc, khoảng 23 giờ cùng ngày, ông N1 đi làm về và kiểm tra két sắt đặt trong phòng ngủ thì phát hiện bị mất 4.800.000 Yên Nhật để trong két sắt (4.700.000 Yên để trong túi nhựa, 100.000 Yên để trong ví tiền). Ngày 04/3/2022, ông N1 đến Công an phường B, Quận A, trình báo sự việc. Công an Q đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, hiện trường không ghi nhận xáo trộn, két sắt tại phòng ngủ không có dấu vết cạy phá.
Đến tháng 4/2022, Ngô Thị H ra Hà Nội và thực hiện vụ “Trộm cắp tài sản” tại phường N, quận B, Thành phố Hà Nội vào ngày 02/5/2022. Ngày 26/6/2022, H đến công an phường N, quận B, Thành phố Hà Nội đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản này.
Tại Cơ quan điều tra, Ngô Thị H khai nhận chỉ thực hiện trộm cắp số tiền 1.000.000 Yên Nhật của ông Tatsuya N1. Ông Tatsuya N1 khai báo bị mất số tiền 4.800.000 Yên để trong két sắt và 5.000.000 đồng trong ví tiền để trên bàn làm việc của phòng ngủ. Ngoài lời khai của ông N1 không còn tài liệu khác chứng minh việc ông N1 bị mất số tiền này. Do đó, không có cơ sở kết luận H trộm cắp số tiền như ông N1 đã khai báo.
Tại công văn thông tin tỷ giá ngoại tệ số 1269/HCM-QLNHV ngày 13/5/2022 của Ngân hàng N3 chi nhánh Thành phố H xác định vào thời điểm ngày 03/3/2022, 1 JPY (Y) = 200,96 đồng Việt Nam. Do đó số tiền H lấy của ông Tatsuya N1 tương đương 200.960.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
Thu giữ của ông Tatsuya N1:
+ 01 (một) túi nhựa màu trắng (Là đồ dùng cá nhân ông N1 dùng để đựng số tiền bị mất).
+ 01 (một) ví tiền màu nâu (Tài sản cá nhân của ông N1)
+ 01 (một) chuỗi hạt bằng gỗ, màu nâu.
+ 01 (một) đồng hồ nữ kim loại màu trắng, ghi chữ Bulova.
(Là đồ dùng cá nhân của Ngô Thị H để quên tại căn hộ của ông Tatsuya N1 sau khi trộm cắp tài sản).
Phần dân sự: Ông Tatsuya N1 yêu cầu Ngô Thị H bồi thường số tiền 4.800.000 Yên N2 và 5.000.000 đồng. Bị can H chưa bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số: 297/CT-VKS-P2 ngày 24/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Ngô Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết giảm nhẹ, từ đó giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Ngô Thị H mức hình phạt từ 07 năm đến 08 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 40 tháng tù tại bản án số 179/2022/HSST ngày 28/9/2022 của tòa án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 10 năm 04 tháng đến 11 năm 04 tháng tù.
Về xử lý vật chứng của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- + Trả lại cho ông T1 Nagata tài sản cá nhân: 01 (một) túi nhựa màu trắng và 01 (một) ví tiền màu nâu.
- + Trả lại cho bị cáo H các tài sản cá nhân do không liên quan đến hành vi phạm tội: 01 (một) chuỗi hạt bằng gỗ, màu nâu và 01 (một) đồng hồ nữ kim loại màu trắng, ghi chữ Bulova, nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án về trách nhiệm dân sự.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải trả lại cho người bị hại - ông Tatsuya N1 số tiền đã chiếm đoạt là 1.000.000 Yên Nhật (tương đương 200.960.000 đồng).
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và trong lời nói sau cùng bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều và tại phiên tòa, bị cáo Ngô Thị H không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Ngô Thị H tại phiên tòa cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:
Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 03/3/2022, tại căn hộ A - khu C, phường B, Quận A, lợi dụng lúc ông Tatsuya N1 ngủ say, bị cáo Ngô Thị H đã có hành vi lén lút lấy trộm 1.000.000 Yên Nhật (tương đương 200.960.000 đồng) của ông Tatsuya N1. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”, là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Ngô Thị H theo tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo Ngô Thị H là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình sẽ bị pháp luật trừng trị, nhưng chỉ vì tham lam, hám lợi nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội bất chấp hậu quả; bị cáo Ngô Thị H có nhân thân tốt, nhưng sau khi phạm tội này trong quá trình bỏ trốn lại tiếp tục phạm tội khác, nên cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Xét thấy bị cáo đang chấp hành hình phạt 40 tháng tù của bản án số: 179/022/HSST 28/9/2022 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội về tội “Trộm cắp tài sản”, mà lại bị xét xử về tội phạm trước khi có bản án trên, nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với bị cáo.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
- - Người bị hại - ông Tatsuya N1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 4.800.000 Yên N2 và 5.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy người bị hại có yêu cầu nhưng không cung cấp chứng cứ để chứng minh bị cáo chiếm đoạt số tiền trên, nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu này.
- - Buộc bị cáo phải trả lại cho người bị hại - ông Tatsuya N1 số tiền 1.000.000 Yên Nhật (tương đương 200.960.000 đồng).
[5] Về vật chứng:
- - Trả lại cho ông Tatsuya N1: 01 (một) túi nhựa màu trắng và 01 (một) ví tiền màu nâu.
- - Trả lại cho bị cáo: 01 (một) chuỗi hạt bằng gỗ, màu nâu và 01 (một) đồng hồ nữ kim loại màu trắng, ghi chữ Bulova, nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành trách nhiệm dân sự.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Ngô Thị H 07 (bảy) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt trên với hình phạt 40 (bốn mươi) tháng tù của bản án số 179/2022/HSST 28/9/2022 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm 04 (bốn) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2022.
- Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
Buộc bị cáo trả lại cho ông T1 Nagata số tiền 1.000.000 Yên Nhật (tương đương 200.960.000 đồng). Thi hành ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Trả lại cho ông Tatsuya N1: 01 (một) túi nhựa màu trắng và 01 (một) ví tiền màu nâu;
+ Trả lại cho bị cáo: 01 (một) chuỗi hạt bằng gỗ, màu nâu và 01 (một) đồng hồ nữ kim loại màu trắng, ghi chữ Bulova, nhưng tiếp tục tạm giữ đồng hồ để bảo đảm thi hành trách nhiệm dân sự.
(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số: NK2023/305 ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
Bị cáo Ngô Thị H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 10.450.000 (mười triệu bốn trăm năm mươi ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chưa thanh toán đầy đủ các khoản tiền bồi thường về tài sản theo mức nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi bằng 50% mức lãi suất giới hạn theo quy định tại thời điểm thanh toán, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Bị cáo Ngô Thị H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Đức Thụ |
Bản án số 376/2023/HS-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 376/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Ngô Thị H 07 (bảy) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt trên với hình phạt 40 (bốn mươi) tháng tù của bản án số 179/2022/HSST 28/9/2022 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm 04 (bốn) tháng tù.
