|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 375/2024/DS-PT Ngày: 26/4/2024 Về việc: “Tranh chấp về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại; Tranh chấp đòi tài sản; Tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở thực hiện quyền sử dụng đất.” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Châu
Các thẩm phán: 1. Bà Châu Thị Điệp
2. Bà Nguyễn Thị Minh Phượng
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Anh – Thư ký Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nghĩa – Kiểm sát viên.
Ngày 24 và 26/4/2024 tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 191/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 02 năm 2024, về việc: “Tranh chấp về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại; Tranh chấp đòi tài sản; Tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở thực hiện quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 398/2023/DS-ST ngày 14/11/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 651/2024/QĐPT-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1293/2024/QĐ-PT ngày 08/4/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Đ, sinh năm: 1975; (có mặt)
Địa chỉ: B, Tổ A, Ấp C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Phan Thành Đ1, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Số G Đ, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Đặng Thị Thanh T, sinh năm 1986; (có mặt)
Địa chỉ: ấp C, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phạm Hiền T1 là luật sư của
Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.(có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ông Võ Huy H, sinh năm 1994; (có mặt)
Địa chỉ: B, Tổ A, Ấp C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2 Ông Đinh Văn T2, sinh năm 1968; (xin vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Số A M, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ liên hệ: B9/2, Tổ A, Ấp C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Thuận H1, sinh năm 1978; (có mặt)
Địa chỉ: H Ấp B, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Bà Ngô Thị Đ và ông Võ Huy H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 15/4/2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Ngô Thị Đ trình bày:
Do quen biết, bà Đ có cho ông Phan Thành D, sinh năm 1972 vay tiền dưới hình thức cầm cố tài sản là bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số K 693114, số vào sổ cấp GCN: 00081/SQA QSDĐ do Ủy ban Nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 06/10/1997 đứng tên bà Đặng Thị Đ2 và Giấy chứng tử của bà Đ2. Sau đó, ông D đi kê khai thừa kế tài sản của bà Đ2 để lại ra được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CS 09299 tại địa chỉ Ấp S, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang thuộc thửa đất số 271, tờ bản đồ 26 diện tích 2.468m² do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp ngày 26/6/2019 đứng tên ông Phan Thành D. Ông Phan Thành D lấy lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Đ2 và đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CS 09299 tại địa chỉ Ấp S, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang thuộc thửa đất số 271, tờ bản đồ 26, diện tích 2.468m² do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp ngày 26/6/2019 đứng tên ông Phan Thành D. Trong các hợp đồng vay tiền ký giữa bà Ngô Thị Đ và ông Phan Thành D có thỏa thuận số tiền vay, lãi, thời gian trả cụ thể như sau:
- - Đối với giấy vay mượn tiền (viết tay) ngày 11/6/2018: Số tiền vay là: 200.000.000 đồng; lãi suất: 10.000.000 đồng; thời gian trả: 6 tháng.
- - Đối với hợp đồng vay tiền số công chứng 004311/2018/CCBH quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 11/6/2018 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh: Số tiền vay là: 200.000.000 đồng; lãi suất: thỏa thuận; thời gian trả: 6 tháng.
- - Đối với hợp đồng vay tiền số công chứng 006968/2018/CCBH quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 21/9/2018 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh: Số tiền vay là: 130.000.000 đồng; lãi suất: thỏa thuận; thời gian trả: 01 năm.
- - Đối với hợp đồng vay tiền số công chứng 006760/2018/CCBH quyển số 3.TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 04/11/2019 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh: Số tiền vay là: 400.000.000 đồng; lãi suất: thỏa thuận; thời gian trả: 01 năm.
Tổng số tiền gốc mà ông Phan Thành D đã vay của bà Ngô Thị Đ là: 930.000.000 đồng đồng. Tất các khoản tiền trên ông D chưa trả gốc và lãi. Ngày 08/9/2021, ông Phan Thành D chết không để lại di chúc. Bà Ngô Thị Đ có nộp đơn khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu tất cả các đồng thừa kế của ông Phan Thành D thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại. Lúc nộp đơn khởi kiện bà Đ không có đầy đủ thông tin về các hàng thừa kế của ông Phan Thành D (Do vợ con ông D từ chối cung cấp các thông tin trên và khi liên hệ các cơ quan đều từ chối cung cấp do liên quan đến nhân thân của người khác) nên việc cung cấp thông tin vợ con ông D không chính xác về họ tên, số lượng người thừa kế. Sau này khi Tòa án đã thu thập được chứng cứ về nhân thân và hàng thừa kế của ông Phan Thành D. Dựa vào những thông tin Tòa án đã thu thập được tại phiên tòa bà Ngô Thị Đ xin đính chính lại thông tin bị đơn trong vụ án, đồng thời bà Ngô Thị Đ xin được rút một phần yêu cầu khởi kiện và xác định lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn, cụ thể như sau:
– Về bị đơn bà Ngô Thị Đ trình bày: Bà Đ xác định người thừa kế theo pháp luật của ông Phan Thành D duy nhất là ông Phan Thành Đ1. Vì vậy, tại đơn yêu cầu khởi kiện mục người bị kiện xin đính chính tên ông Nguyễn Thành Đ3 thành Phan Thành Đ1 và tại giai đoạn thụ lý ông Phan Thành Đ1 được xác định là bị đơn và có nghĩa vụ thực hiện việc trả nợ trong phạm vi di sản thừa kế của ông Phan Thành D để lại là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số Cs 092999, thửa đất số 271, tờ bản đồ số 26 tọa lạc tại địa chỉ ấp S, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang do Sở T3, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 26/6/2019 đứng tên ông Phan Thành D.
– Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện: Lúc nộp đơn khởi kiện bà Đ bị nhầm lẫn nên khởi kiện luôn hợp đồng của ông Võ Huy H, sau khi được tòa án giải thích bà Đ đã rút phần yêu cầu đối với số tiền 100.000.000 đồng của hợp đồng vay tiền số 000394/2020/CCBH lập tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 08/02/2020 giữa ông Võ Huy H và ông Phan Thành D do bà Đ không có quyền khởi kiện. Ngày 15/8/2023, bà Ngô Thị Đ có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi của giấy vay mượn tiền (viết tay) ngày 11/6/2018 và hợp đồng vay tiền số công chứng 004311/2018/CCBH quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGĐ lập tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 11/6/2018 giữa bà Ngô Thị Đ và ông Phan Thành D. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Ngô Thị Đ giữ nguyên việc rút các yêu cầu khởi kiện nêu trên.
– Bà Ngô Thị Đ xác định lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện trong vụ án này tại phiên tòa là: Đề nghị Tòa án buộc ông Phan Thành Đ1 thực hiện nghĩa vụ về tài sản do ông Phan Thành D để lại trả tổng số tiền tạm tính đến ngày 14/11/2023 cho tất các hợp đồng vay tiền là 1.243.913.000 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 930.000.000 đồng, lãi trong hạn số tiền là 52.788.000 đồng, lãi quá hạn số tiền là 261.125.000 đồng, cụ thể cho từng hợp đồng được tính như sau:
- + Đối với giấy vay mượn tiền (viết tay) ngày 11/6/2018: bà Đ chỉ yêu cầu số tiền nợ gốc: 200.000.000 đồng, bà Đ không yêu cầu tính lãi.
- + Đối với hợp đồng vay tiền số công chứng 004311/2018/CCBH quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 11/6/2018: bà Đ chỉ yêu cầu số tiền nợ gốc: 200.000.000 đồng, bà Đ không yêu cầu tính lãi.
- + Đối với hợp đồng vay tiền số công chứng 006968/2018/CCBH quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 21/9/2018: Số tiền nợ gốc: 130.000.000 đồng; lãi trong hạn chưa trả số tiền là: 130.000.000 đồng x 0,83% x 12 tháng = 12.948.000 đồng; lãi quá hạn chưa trả số tiền là: 130.000.000 đồng x 1,25% x 50 tháng = 81.125.000 đồng. Tổng cộng số tiền là 224.073.000 đồng.
- + Đối với hợp đồng vay tiền số công chứng 006760/2018/CCBH quyển số 3.TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 04/11/2019: Số tiền nợ gốc là: 400.000.000 đồng; lãi trong hạn chưa trả số tiền là: 400.000.000 đồng x 0,83% x 12 tháng = 39.840.000 đồng; lãi quá hạn chưa trả số tiền là: 400.000.000 đồng x 1,25% x 36 tháng = 180.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền là 619.840.000 đồng. Bà Ngô Thị Đ xác định số tiền trong hợp đồng vay này là tài sản riêng của bà Đ, không liên quan đến ông Đinh Văn T2.
Bà Ngô Thị Đ yêu cầu ông Phan Thành Đ1 trả tất cả số tiền trên một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Về chi phí tố tụng là số tiền giám định, chữ viết bà Đ tự nguyện chịu. Bà Ngô Thị Đ trình bày thêm về giấy vay mượn tiền (viết tay) ngày 11/6/2018 được ông Phan Thành D ký sau khi đi phòng công chứng để ký các hợp đồng vay tiền khác. Lúc này, tại nhà bà Ngô Thị Đ có bà Nguyễn Thị Thuận H1 là bà con cô cậu với bà Đ đi đến chơi. Do ông Phan Thành D viết chữ không rành, sai chính tả nên ông D có nhờ bà Nguyễn Thị Thuận H1 ghi giấy vay tiền mượn của bà Đ số tiền 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng. Bà Ngô Thị Đ xác nhận toàn bộ chữ viết trong giấy mượn tiền viết tay ngày 11/6/2018 là của bà Nguyễn Thị Thuận H1 viết hộ nhưng chữ ký là của ông D. Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Thuận H1 còn chứng kiến việc bà Đ đưa tận tay cho ông Phan Thành D số tiền 200.000.000 đồng cho ông Phan Thành D vay. Bà Nguyễn Thị Thuận H1 là người viết dùm giấy mượn tiền viết tay ngày 11/6/2018 và chứng kiến việc giao nhận tiền vay giữa bà Đ và ông D, nên bà giữ nguyên ý kiến về việc triệu tập và đưa bà H1 tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người làm chứng. Bà Ngô Thị Đ không đồng ý trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số Cs 092999, thửa đất số 271, tờ bản đồ số 26 tọa lạc tại địa chỉ ấp S, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang do Sở T3, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 26/6/2019 đứng tên ông Phan Thành D cho ông Phan Thành Đ1 khi chưa thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Ông Phan Thành D có mượn tiền qua công chứng và giấy tay thì mới tự nguyện đưa Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất để làm tin, hứa sau khi bán được đất sẽ trả lại tiền nhưng ông D đột ngột chết vào năm 2021. Bà Ngô Thị Đ giữ nguyên lời trình bày về việc yêu cầu ai là người nhờ bà Nguyễn Thị Thuận H1 viết giấy mượn tiền ngày 11/6/2018, bà T trình bày là việc của bà T, bà Đ không quan tâm.
* Tại các bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Phan Thành Đ1 có đại diện theo ủy quyền bà Đặng Thị Thanh T trình bày:
Trong hồ sơ khởi kiện của bà Ngô Thị Đ không cung cấp được Giấy chứng tử của ông Phan Thành D. Nơi thường trú của ông Phan Thành D trong các lần vay tiền với bà Ngô Thị Đ và ông Võ Huy H là ở thị xã G, tỉnh Tiền Giang. Nay bà T cho rằng thẩm quyền giải quyết vụ án phải là Tòa án nơi ông D thường trú chứ không phải Tòa án Nhân dân Quận 8 để xác định được nghĩa vụ của các hàng thừa kế nếu có khi ông D chết. Các hợp đồng vay tiền giữa ông Phan Thành D, bà Ngô Thị Đ và ông Võ Huy H, bà T có ý kiến như sau: Các hợp đồng vay tiền thể hiện ông Phan Thành D không hề cầm sổ hồng của ông D cho bà Ngô Thị Đ giữ. Qua các lời thừa nhận tại Tòa thì bà Ngô Thị Đ hiện đang giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số Cs 092999 do Sở T3, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 26/6/2019, thửa đất số 271, tờ bản đồ số 26 tọa lạc tại địa chỉ ấp S, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang đứng tên ông Phan Thành D, do đó bà Đặng Thị Thanh T yêu cầu bà Ngô Thị Đ trả lại giấy chứng nhận cho ông Phan Thành Đ1. Ngày 11/6/2018, ông D và bà Đ có ký Hợp đồng vay tiền tại Văn phòng C, B số tiền là 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng. Sau đó cùng ngày 11/6/2018 ông D và bà Đ có ký một giấy vay mượn tiền với số tiền 200.000.000 đồng bằng giấy tay. Ngoài ra, hợp đồng vay tiền ngày 11/6/2018 và Giấy vay mượn tiền ngày 11/6/2018, bà T cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện. Nay bà Đặng Thị Thanh T không đồng ý với giấy mượn tiền (viết tay) ký ngày 11/6/2018 là do ông D ký nhận mượn tiền nên không có trách nhiệm hoàn trả bà Đ. Bà T không yêu cầu giám định chữ viết chữ ký trong giấy mượn tiền này và cho rằng đó là nghĩa vụ của bà Đ. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của bị đơn xác định chữ viết trong giấy vay mượn tiền (viết tay) ngày 11/6/2018 không phải của ông D nhưng thừa nhận chữ ký là của ông Phan Thành D ký tên. Đối với các hợp đồng vay tiền số công chứng 004311/2018/CCBH quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 11/6/2018 ông Phan Thành D có vay số tiền 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng, hợp đồng vay tiền số công chứng 006760/2018/CCBH quyển số 3.TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 04/11/2019 ông D vay số tiền 400.000.000 (Bốn trăm triệu) đồng, hợp đồng vay tiền số công chứng 006968/2018/CCBH quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 21/9/2018 ông D vay số tiền 130.000.000 (Một trăm ba mươi triệu) đồng các hợp đồng được ký giữa bà Ngô Thị Đ và ông Phan Thành D. Hợp đồng vay tiền số công chứng 000394 ký tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh giữa ông Phan Thành D và ông Võ Huy H ngày 08/02/2020, ông D vay số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng. Các hợp đồng vay tiền có công chứng này bà T đều thừa nhận chữ ký và chữ viết là của ông Phan Thành D nhưng không có chứng cứ giao nhận tiền sau khi ký tên. Nay bà Đặng Thị Thanh T là đại diện theo ủy quyền của ông Phan Thành Đ1 yêu cầu bà Ngô Thị Đ và ông Võ Huy Hoàng cung c các giấy tờ liên quan chứng minh việc ông D có nhận tiền của bà Ngô Thị Đ và ông Võ Huy H cũng như mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận nếu có sau khi ký các Hợp đồng vay tiền trên theo Điều 2 và Điều 3 của các Hợp đồng vay tiền tại Văn phòng C. Nếu phía bà Ngô Thị Đ, ông Võ Huy H không cung cấp các chứng cứ chứng minh ông D có nhận tiền và thỏa thuận lãi suất thì ông Phan Thành Đ1 có bà Đặng Thị Thanh T làm đại diện theo ủy quyền không thừa nhận có nợ tiền 5 hợp đồng vay tiền trên và đề nghị Tòa án bac toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Đ và yêu cầu độc lập của ông Võ Huy H. Ngày 10/10/2023, ông Phan Thành Đ1 có đơn yêu cầu phản tố yêu cầu
bà Ngô Thị Đ hoàn trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số Cs 092999 thửa đất số 271, tờ bản đồ số 26 tọa lạc tại địa chỉ ấp S, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang do Sở T3, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 26/6/2019 đứng tên ông Phan Thành D cho ông Phan Thành Đ1. Trường hợp bà Đ không trả bản chính Giấy chứng nhận này cho ông Phan Thành Đ1 thì ông Đ1 được quyền liên hệ với cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất có thẩm quyền để thực hiện việc cấp lại. Tại phiên tòa, bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố. Bị đơn cũng xác nhận lại là người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Phan Thành D duy nhất chỉ có ông Phan Thành Đ1. Giữa ông Phan Thành D và bà Nguyễn Thị H2 có chung sống như vợ chồng vào năm 1990 nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Giải thích lý do vì sao văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 21/9/2022 giữa bà Nguyễn Thị H2 và ông Phan Thành Đ1 lập tại Văn phòng C1, tỉnh Tiền Giang có kê khai bà Nguyễn Thị H2 là đồng thừa kế theo pháp luật của ông D là do Văn phòng C2 phòng trừ có những tài sản phát sinh trên đất nên kê khai vậy và thực hiện việc tặng cho ông Đ1 nhằm tránh những tranh chấp về sau này. Đối với giấy khai tử của bà Đặng Thị Đ2 mà bà Đ đang giữ bị đơn không yêu cầu nguyên đơn hoàn trả. Đối với việc tòa án triệu tập người làm chứng bà Nguyễn Thị Thuận H1, bị đơn có ý kiến là bà Hòa bất n trong lời khai về việc chứng kiến giao nhận tiền, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng tử (của bà Đ2) giữa bà Ngô Thị Đ và ông Phan Thành D. Nên lời trình bày của người làm chứng không khách quan, không trung thực nên đề nghị Tòa án không đưa bà Nguyễn Thị Thuận H1 tham gia vụ án với tư cách người làm chứng. Đồng thời phía bà Nguyễn Thị Thuận H1 có khai giữa bà Đ và bà H1 có mối quan hệ là bà con cô cậu ruột. Bị đơn yêu cầu Tòa án ghi nhận bà Đ và bà H1 có khai việc vay mượn tiền bằng giấy tay ngày 11/6/2018 có nội dung là: Bà Ngô Thị Đ có yêu cầu ông Phan Thành D viết giấy vay tiền nhưng ông D nói là viết chữ không rành, sai chính tả nên kêu bà Đ viết. Bà Ngô Thị Đ nói là viết chữ cũng không rành nên nhờ bà Nguyễn Thị Thuận H1 viết dùm. Bà H1 cũng khai việc ông D cho bà H1 viết dùm và bà Đ thống nhất cho bà H1 viết dùm.
* Tại các bản tự khai, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Huy H trình bày:
Ngày 08/02/2020 do quen biết, ông Võ Huy H và ông Phan Thành D có ký hợp đồng vay tiền số công chứng 000394 lập tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh với các nội dung thỏa thuận như sau: Số tiền vay: 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng, lãi suất: thỏa thuận, thời gian trả: 6 tháng. Đến hẹn thanh toán ông Phan Thành D chưa trả gốc và lãi của số tiền đã vay. Ngày 08/9/2021, ông Phan Thành D chết không để lại di chúc. Ông Võ Huy H có nộp đơn yêu cầu độc lập tại Tòa để yêu cầu tất cả các đồng thừa kế của ông Phan Thành D thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại. Lúc nộp đơn yêu cầu độc lập ông H cũng như bà Đ (là mẹ ruột) không có đầy đủ thông tin về các hàng thừa kế của ông D (Do vợ con ông D từ chối cung cấp các thông tin trên và khi liên hệ các cơ quan đều từ chối cung cấp do liên quan đến nhân thân của người khác) nên việc cung cấp thông tin vợ con ông D không chính xác về họ tên, hàng thừa kế. Sau này khi Tòa án đã thu
thập được chứng cứ về nhân thân và hàng thừa kế của ông D. Dựa vào những thông tin Tòa án đã thu thập được tại phiên tòa ông Võ Huy H xin đính chính lại thông tin bị đơn trong vụ án và xác định lại toàn bộ yêu cầu độc lập đối với bị đơn, cụ thể như sau:
- Về bị đơn trong vụ án: Ông Võ Huy H xác định người thừa kế theo pháp luật của ông D duy nhất là ông Phan Thành Đ1. Vì vậy, ông Phan Thành Đ1 được xác định là bị đơn và có nghĩa vụ thực hiện việc trả nợ trong phạm vi di sản thừa kế của ông Phan Thành D để lại là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận số CS383075, số vào sổ cấp GCN: CS0929 do Sở T3, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 26/6/2019 đối với số tiền ông Võ Huy H đã cho ông Phan Thành D vay.
- Về yêu cầu độc lập: Ông Võ Huy H đề nghị Tòa án buộc ông Phan Thành Đ1 thực hiện nghĩa vụ về tài sản do ông Phan Thành D để lại trả tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 14/11/2023 là 151.230.000 (Một trăm năm mươi mốt triệu hai trăm ba mươi ngàn) đồng, trong đó: Số tiền nợ gốc là: 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng; Lãi trong hạn chưa trả số tiền là: 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng x 0,83% x 6 tháng = 4.980.000 (Bốn triệu chín trăm tám mươi ngàn) đồng; Lãi quá hạn chưa trả số tiền là: 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng x 1,25% x 37 tháng = 46.250.000 (Bốn mươi sáu triệu hai trăm năm mươi ngàn) đồng. Yêu cầu ông Phan Thành Đ1 trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
* Tại các bản tự khai, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn T2 trình bày:
Ông Đinh Văn T2 và bà Ngô Thị Đ là vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 06 do Ủy ban Nhân dân xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/01/2019. Ông Đinh Văn T2 xác định số tiền 400.000.000 đồng mà bà Ngô Thị Đ cho ông Phan Thành D vay theo hợp đồng vay tiền số công chứng 006760/2018/CCBH quyển số 3.TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 04/11/2019 lập tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản riêng của bà Đ, không liên quan tới ông T2. Vì vậy, ông Đinh Văn T2 không tranh chấp và không yêu cầu gì đối với số tiền này trong vụ án.
* Tại các bản tự khai, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa người làm chứng bà Nguyễn Thị Thuận H1 trình bày:
Bà H1 là bà con cô cậu ruột với bà Ngô Thị Đ. Ngày 11/6/2018 bà có đến nhà bà Ngô Thị Đ chơi thì tình cờ gặp ông Phan Thành D. Tại đây, giữa bà Ngô Thị Đ và ông Phan Thành D có thỏa thuận ký hợp đồng vay tiền. Theo đó, bà Ngô Thị Đ cho ông Phan Thành D mượn số tiền 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng. Bà Ngô Thị Đ có yêu cầu ông Phan Thành D viết giấy vay tiền nhưng ông D nói là viết chữ không rành, sai chính tả nên kêu bà Ngô Thị Đ viết. Bà Ngô Thị Đ nói là viết chữ cũng không rành nên nhờ bà H1 viết dùm. Bà Nguyễn Thị Thuận H1 xác nhận là có ghi dùm cho ông Phan Thành D và bà Ngô Thị Đ giấy vay tiền mượn ngày 11/6/2018 số tiền 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng. Bà Nguyễn Thị Thuận H1 có viết giấy mượn tiền thay cho ông Phan Thành D và bà Ngô Thị Đ sau đó ông D ký tên phía cuối. Bà Nguyễn Thị Thuận H1 xác định toàn bộ chữ viết trong giấy vay mượn tiền (viết tay) ngày 11/6/2018 là của bà viết ra và ghi theo ông Phan Thành D
và bà Ngô Thị Đ đọc. Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Thuận H1 còn chứng kiến việc bà Ngô Thị Đ giao đầy đủ số tiền 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng cho ông D. Đối với việc bà Đ giữ bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và giấy chứng tử của bà Đặng Thị Đ2 thì bà H1 chỉ nghe giữa ông Phan Thành D và bà Ngô Thị Đ thỏa thuận khi vay mượn tiền, còn việc các bên giao nhận hay chưa thì bà không biết. Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thuận H1 giữ nguyên lời khai và cam đoan trước hội đồng xét xử: cam đoan đã được Tòa án giải thích rõ về quyền, nghĩa vụ của người làm chứng; cam đoan khai báo trung thực trước Tòa án; cam đoan chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về lời khai của mình.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 398/2023/DS-ST ngày 14/11/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Đ buộc ông Phan Thành Đ1 phải chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản ông D để lại là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CS 092999 tọa lạc tại địa chỉ ấp S, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang do Sở T3, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 26/6/2019 đứng tên ông Phan Thành D trả cho bà Đ số tiền là 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng theo giấy vay mượn tiền (viết tay) ngày 11/6/2018. Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Đ buộc người thừa kế của ông Phan Thành D là ông Phan Thành Đ1 thực hiện nghĩa vụ tài sản do ông D để lại trả số tiền tạm tính đến ngày 14/11/2023 đối với: Hợp đồng vay tiền số công chứng 006968/2018/CCBH quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 21/9/2018: Số tiền nợ gốc là: 130.000.000 đồng, lãi trong hạn chưa trả số tiền là: 12.948.000 đồng, lãi quá hạn chưa trả số tiền là: 81.125.000 đồng, tổng cộng số tiền là 224.073.000 đồng; Hợp đồng vay tiền số công chứng 006760/2018/CCBH quyển số 3.TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 04/11/2019: Số tiền nợ gốc là: 400.000.000 đồng, lãi trong hạn chưa trả số tiền là: 39.840.000 đồng, lãi quá hạn chưa trả số tiền là: 180.000.000 đồng, tổng cộng số tiền là 619.840.000 đồng; Hợp đồng vay tiền số công chứng 004311/2018/CCBH quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 11/6/2018 số tiền nợ gốc là: 200.000.000 đồng các hợp đồng được ký giữa bà Ngô Thị Đ và ông Phan Thành D tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng số tiền gốc và lãi của bà Ngô Thị Đ không được chấp nhận là: 1.043.913.000 đồng.
3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Đ đối với số tiền lãi của giấy vay mượn tiền (viết tay) ngày 11/6/2018, hợp đồng vay tiền số công chứng 004311/2018/CCBH quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 11/6/2018 lập tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh giữa bà Ngô Thị Đ và ông Phan Thành D; Yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 100.000.000 đồng của hợp đồng vay tiền số công chứng 000394/2020/CCBH lập tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 08/02/2020 giữa ông Võ Huy H và ông Phan Thành D.
4. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phan Thành Đ1.
Buộc bà Ngô Thị Đ chấm dứt hành vi cản trở quyền của người sử dụng đất và có trách nhiệm hoàn trả ngay bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số Cs 092999, thửa đất số 271, tờ bản đồ số 26 tọa lạc tại địa chỉ ấp S, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang do Sở T3, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 26/6/2019 đứng tên ông Phan Thành D cho ông Phan Thành Đ1.
Trường hợp bà Ngô Thị Đ không trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số Cs 092999, thửa đất số 271, tờ bản đồ số 26 tọa lạc tại địa chỉ ấp S, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang do Sở T3, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 26/6/2019 đứng tên ông Phan Thành D cho ông Phan Thành Đ1 thì ông Đ1 được quyền liên hệ với cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất có thẩm quyền để thực hiện việc cấp lại.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
5. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Võ Huy H buộc người thừa kế theo pháp luật của ông Phan Thành D là ông Phan Thành Đ1 thực hiện nghĩa vụ tài sản do ông D để lại trả tổng số tiền tạm tính đến ngày 14/11/2023 là: 151.230.000 đồng, trong đó: Số tiền nợ gốc là: 100.000.000 đồng; lãi trong hạn chưa trả số tiền là: 4.980.000 đồng; lãi quá hạn chưa trả số tiền là: 46.250.000 đồng theo Hợp đồng vay tiền ngày 08/02/2020 số công chứng 000394 lập tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh giữa ông Võ Huy H và ông Phan Thành D.
6. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Ngô Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận số tiền là 43.317.930 đồng và phải chịu số tiền án phí do yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận số tiền là 300.000 đồng. Tổng cộng số tiền án phí dân sự sơ thẩm bà Ngô Thị Đ phải chịu là 43.617.930 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí mà bà Ngô Thị Đ đã nộp là 29.250.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0016941 ngày 10/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Bà Ngô Thị Đ còn phải nộp thêm số tiền án phí là 14.367.930 đồng. Nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ông Võ Huy H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 7.561.500 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí mà ông Võ Huy H đã nộp là 2.500.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0017002 ngày 23/5/2022 của Chi
cục Thi hành án dân sự Quận 8. Ông Võ Huy H còn phải nộp thêm số tiền án phí là 5.061.500 đồng. Nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ông Phan Thành Đ1 phải chịu án phí sơ thẩm trên phần yêu cầu khởi kiện bà Ngô Thị Đ được chấp nhận số tiền là 10.000.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí mà ông Phan Thành Đ1 đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0036204 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Ông Phan Thành Đ1 còn phải nộp thêm số tiền án phí là 9.700.000 đồng. Nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
7. Về chi phí tố tụng là số tiền giám định chữ viết, chữ ký bà Ngô Thị Đ tự nguyện chịu nên không xét.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án; Đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.
* Cùng ngày 27/11/2023, nguyên đơn bà Ngô Thị Đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Võ Huy H có đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện không rút đơn khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Nguyên đơn bà Ngô Thị Đ trình bày: Bà Đ xác định việc vay tiền do bà H1 giới thiệu ông D là người thân thiết của bà H1 cần vay tiền nên bà Đời m cho ông D vay 02 khoản tiền cùng ngày 06/11/2018. Khoản viết giấy tay 200.000.000 đồng khi nhận tiền ông D có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên mẹ ông D là bà Đặng Thị Đ2 và giấy chứng tử của mẹ ông D, nên bà Đời m tin tưởng cho ông D vay tiếp 200.000.000 đồng nhưng để đảm bảo hơn bà Đ đã yêu cầu ông D ký hợp đồng vay tiền công chứng. Do thỏa thuận tại công chứng khi vay sẽ giao tiền ngay khi ký công chứng nên bà Đ đã giao tiền ngay cho ông D ngay khi ký công chứng trước sự chứng kiến của bà H1, vì bà Đ đã giao tiền vay đủ cho ông D nên ông D mới tiếp tục ký công chứng vay tiền vào ngày 21/9/2018 để vay tiếp 130.000.000 đồng để nhận tiền vay. Đầu năm 2019 ông D có liên hệ mượn lại giấy chứng nhận đứng tên bà Đ2 để sang tên cho ông D, vì tin là đã ký hợp đồng công chứng về việc vay tiền nên bà Đ đã cho ông D mượn lại giấy để
thực hiện thủ tục cũng vì biết rằng chỉ có ông D thừa kế của bà Đ2. Cuối tháng 10/2019 ông D liên hệ và cho biết đã đứng tên giấy chứng nhận muốn vay tiền làm ăn, nên bà Đời m tiếp tục cho ông D vay 400.000.000 đồng nữa vào ngày 04/11/2019 và nhận bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông D đứng tên để làm tin. Do chỗ tin tưởng quen biết với bà H1 nên bà Đời m cho ông D vay nhiều lần và việc vay tiền có lập hợp đồng công chứng nên bà Đ không yêu cầu ông D viết biên nhận tiền nhưng thực tế có giao ngay tiền tại phòng công chứng, có bà H1 là người chở bà Đ đi ký công chứng và chứng kiến ông D nhận tiền vay tại phòng công chứng ngay sau khi ký hợp đồng vay tiền. Nay bà Đ yêu cầu ông Đ1 là người thừa kế duy nhất của ông D phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại đối với phần tài sản của ông D để lại. Nếu việc vay tiền lần đầu mà không giao tiền cho ông D thì chắc chắn những lần tiếp theo ông D không thể ký hợp đồng công chứng vay tiếp nếu chưa nhận được khỏan tiền vay của các hợp đồng đã ký trước đây. Phía bị đơn chỉ căn cứ việc không có biên nhận tiền để cho rằng ông D không nhận tiền là không đúng sự thật, không phù hợp thực tế. Nếu ông Đ1 không thanh toán đủ số tiền mà ông D còn nợ của nguyên đơn thì đề nghị Tòa án phát mãi tài sản thế chấp cũng là thỏa thuận của hai bên có thể hiện trong hợp đồng vay về việc nếu ông D không trả được nợ đúng hạn thì ông D sẽ dùng tài sản cá nhân của ông D bán phát mãi để trả nợ cho bà Đ. Bà Đ tự nguyện chỉ yêu cầu trả nợ gốc, không yêu cầu tính lãi trên số tiền vay.
- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Phan Thành Đ1 là bà Đặng Thị Thanh T trình bày: Các hợp đồng vay tiền là ông D ký công chứng như bên phía nguyên đơn trình bày là đúng, tuy nhiên sau khi ký kết hợp đồng này thì nguyên đơn bà Ngô Thị Đ không giao tiền cho ông D nhận, không có chứng cứ giao nhận tiền. Ông D có thế chấp giấy chứng nhận của ông D hay không thì bị đơn không biết, nhưng trước đó ông D có thế chấp giấy chứng nhận của bà Đ2 là mẹ ông D để vay số tiền 200.000.000 đồng của bà Đ theo giấy viết tay ngày 06/11/2018. Bị dơn xác định 02 khoản tiền vay ngày 06/11/2018 là cùng một khoản nhưng vừa viết giấy vay tay vừa ký hợp đồng công chứng nhưng bị đơn không có chứng cứ chứng minh hai khoản này là cùng một khoản và không có thỏa thuận nào giữa ông D và bà Đ về việc hai khoản vay cùng ngày là một khoản. Do bà Đ không cung cấp được chứng cứ chứng minh về việc có giao tiền cho ông D nhận nên phía bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với các hợp đồng vay tổng cộng số tiền vay gốc là 730.000.000 đồng. Việc ông D chưa nhận được khoản vay ký hợp đồng công chứng lần đầu tiên vào ngày 06/11/2018 nhưng lại ký tiếp các hợp đồng vay tiền khác tại phòng công chứng thì bị đơn không biết vì ông D đã chết. Hiện nay bị đơn không giữ giấy chứng nhận của ông Phan Thành D mà giấy chứng nhận này do nguyên đơn giữ. Tại cấp sơ thẩm bị đơn đã chấp nhận trả 930.000.000 đồng tiền nợ gốc cho nguyên đơn nhưng nguyên đơn không đồng ý
mà đòi thêm tiền lãi nên nay hai bên có mâu thuẫn, hiện nay bị đơn không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Võ Huy H trình bày: ngày 8/12/2020 ông H có cho ông Phan Thành D vay số tiền 100.000.000 đồng, có thực hiện ký tại phòng công chứng và ông H đã giao tiền cho ông D nhận sau khi ký công chứng, việc giao nhận tiền giữa ông H và ông D không có ai chứng kiến nhưng việc giao tiền là có thật. Nay ông H yêu cầu ông Đ1 là người thừa kế duy nhất của ông D phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại đối với phần tài sản mà ông D để lại, phải trả cho ông H số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng. Bà H1 không chứng kiến việc ông H giao tiền cho ông D.
- Người làm chứng bà Nguyễn Thị Thuận H1 trình bày: Bà H1 và ông D quen biết thân thiết với nhau nên khi ông D cần tiền ông D nhờ bà H2 giới thiệu gặp bà Đ để vay tiền, nên ngày 06/11/2018 ông D tới gặp bà Đ vay số tiền 200.000.000 đồng, việc viết giấy tay do bà H1 viết giúp cho ông D và bà Đ ký vì bà Đ và ông D nhờ viết giúp vì không rõ chữ, bà Đ đã giao cho ông D nhận 200.000.000 đồng ngày khi ký, lúc này ông D có thế chấp cho bà Đ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính, đứng tên bà Đặng Thị Đ2 là mẹ ông D. Đến chiều cùng ngày ông D cần vay thêm 200.000.000 đồng nữa nên mới hỏi bà H1 nhờ vay tiếp, nên bà H1 đã giới thiệu tiếp cho bà Đ, bà Đ yêu cầu ra phòng công chứng lập hợp đồng vay tiền có công chứng. Bà H1 là người chở bà Đ ra phòng công chứng để bà Đ ký công chứng cho ông D vay tiền và chứng kiến việc bà Đ có giao cho ông D nhận 200.000.000 đồng cùng ngày, tổng cộng là ngày hôm đó ông D đã nhận 400.000.000 đồng từ bà Đ. Sau đó vào ngày 21/9/2019, ông D tiếp tục nhờ bà H1 nói với bà Đ cho ông D vay thêm số tiền 130.000.000 đồng là sau khi vay lần đầu khoảng một năm, bà H1 cũng là người chở bà Đ ra phòng công chứng ký công chứng hợp đồng vay tiền và chứng kiến việc bà Đ giao cho ông D nhận 130.000.000 đồng ngay sau khi ký công chứng. Đến tháng 11/2019 Ông D tiếp tục vay bà Đ số tiền 400.000.000 đồng và bà H1 cũng là người chở bà Đ ra phòng công chứng ký công chứng và chứng kiến việc bà Đ giao tiền cho ông D nhận 400.000.000 đồng và ông D đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông D. Bà H1 xác định việc vay tiền và ký công chứng sau đó ông D nhận tiền theo các khoản vay theo các hợp đồng công chứng là có thật, các lần vay tiền, giao nhận tiền giữa bà Đ và ông D đều có mặt bà H1 chứng kiến. Đối với khoản vay của ông H cho ông D vay bà H1 biết nhưng không có chứng kiến việc giao nhận tiền.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là luật sư Phạm Hiền T1 không có ý kiến tranh luận, đồng ý với ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đã trình bày.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử tuyên bố nghị án, Thẩm phán chủ tọa, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Những người tham gia tố tụng đã được thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa;
- Về thời hạn kháng cáo:
[1] Ngày 14/11/2023, Tòa án Nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm. Ngày 27/11/2023, nguyên đơn bà Ngô Thị Đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Võ Huy H có đơn kháng cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đơn kháng cáo của bị đơn làm trong thời hạn luật định, là hợp lệ được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
- Về thủ tục tố tụng:
[2] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ4 có mặt; bị đơn ông Phan Thành Đ1 ủy quyền cho bà Đặng Thị Thanh T có mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Huy H có mặt, người làm chứng bà Nguyễn Thị Thuận H1 có mặt; ông Đinh Văn T2, Luật sư Phạm Hiền T1 có đơn xin vắng mặt (Luật sư T1 có mặt ngày 26/4/2024) nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Ngô Thị Đ về việc yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm buộc bị đơn ông Phan Thành Đ1 là người thừa kế duy nhất của ông Phan Thành D phải trả cho nguyên đơn số tiền vay tổng cộng là 730.000.000 đồng, không tính lãi theo các hợp đồng vay ký công chứng bao gồm:
- - Số tiền vay 200.000.000 đồng theo Hợp đồng vay tiền số 004311/2018/CCBH do Văn phòng C công chứng ngày 11/6/2018; (BL206)
- - Số tiền vay 130.000.000 đồng theo Hợp đồng vay tiền số 006998/2018/CCBH do Văn phòng C công chứng ngày 21/9/2018 (BL202).
- - Số tiền vay 400.000.000 đồng theo Hợp đồng vay tiền số 006760/2019/CCBH do Văn phòng C công chứng ngày 04/11/2019 (BL204).
[4] Hội đồng xét xử nhận định: Căn cứ khoản 2.2 Điều 2 quy định về phương thức vay của 03 Hợp đồng vay tiền nói trên giữa bà Ngô Thị Đ và ông Phan Thành D xác định: “……việc giao nhận tiền vay được thực hiện sau khi hai bên ký hợp đồng này” (BL206, 204, 202). Như vậy theo thỏa thuận thì việc giao nhận tiền vay được thực hiện sau khi hai bên ký hợp đồng công chứng. Cùng ngày 11/6/2018 bà Đ cho ông D 02 khoản tiền, mỗi khoản 200.000.000 đồng, phía bị đơn chỉ đồng ý trả khoản tiền theo giấy viết tay, còn các khoản vay 200.000.000 đồng theo Hợp đồng vay tiền ký công chứng ngày 11/6/2018; 130.000.000 đồng theo Hợp đồng vay tiền ký công chứng ngày 21/9/2018 và 400.000.000 đồng theo Hợp đồng vay tiền ký công chứng ngày 04/11/2019 bị đơn không đồng ý trả cho rằng các bên có ký công chứng vay tiền nhưng do nguyên đơn không có chứng cứ giao nhận tiền nên không chấp nhận trả lại tiền vay theo yêu cầu của nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ khi vay tiền ngày 11/6/2018 ông D đã có thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên mẹ ông D là bà Đặng Thị Đ2 và giấy chứng tử của bà Đ2 cho nguyên đơn. Sau đó, ngày 21/9/2018 và 04/11/2019 ông D tiếp tục ký tiếp 02 hợp đồng vay tiền.
[5] Xét thấy, nếu bà Đ không giao tiền cho ông D nhận thì ngay khi ký công chứng hợp đồng vay lần đầu ngày 11/6/2018 thì không có việc ông D lại ký tiếp hợp đồng vay tiền ngày 21/9/2018 và ngày 04/11/2019 mà không nhận tiền vay. Mặc khác, quá trình vay từ ngày 11/6/2018 ông D thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Đặng Thị Đ2 nhưng đến tháng 10/2019 khi ông D được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông D đã thế chấp tài sản là bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số Cs 092999 do Sở T3, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 26/6/2019 cấp cho ông Phan Thành D và ký vay lần 03 là ngày 04/11/2019. Do đó có cơ sở xác định 03 lần ký công chứng vay tiền giữa ông D và bà Đ vào ngày 11/6/2018, ngày 21/9/2018 và ngày 04/11/2019 là có thực, việc vay tiền kéo dài liên tục nhiều lần từ tháng 6/2018 đến tháng 11/2019 thể hiện ý chí của ông D cần vay tiền của bà Đ nên mới ký công chứng vay tiền, bà Đ đã thực hiện việc giao tiền vay ngay sau khi ký công chứng là đúng theo thỏa thuận của hai bên tại khoản 2.2 Điều 2 của Hợp đồng vay tiền quy định “...việc giao nhận tiền vay được thực hiện sau khi hai bên ký hợp đồng này”. Việc nguyên đơn xác định đã giao tiền cho ông D ngay khi ký công chứng các hợp đồng vay tiền cũng phù hợp với lời khai của người làm chứng là bà Nguyễn Thị Thuận H1 khai tại phiên tòa về việc bà H1 là người giới thiệu ông D gặp bà Đ để vay tiền. Bà H1 xác định vào ngày 11/6/2018 ông D vay tiền của bà Đ 02 lần mỗi lần 200.000.000 đồng và bà H1 người viết giấy vay giúp cho hai bên đối với khoản vay 200.000.000 đồng ngày 11/6/2018 và cùng là người chở bà Đ đến phòng công chứng để bà Đ thực hiện ký công chứng cho ông D vay tiền vào các ngày 11/6/2018, ngày 21/9/2018 và ngày 04/11/2019 theo sự giới thiệu của bà H1. Bà H1 chứng kiến việc bà Đ có giao tiền mặt cho ông D nhận sau khi ký công chứng của các lần vay tiền nói trên. Do đó có căn cứ xác định cả 03 lần ông D và bà Đ ký công chứng hợp đồng vay tiền ngày 11/6/2018, ngày 21/9/2018 và ngày 04/11/2019 thì bà Đ đã thực hiện giao tiền theo hợp đồng vay cho ông D có sự chứng kiến của người làm chứng là bà H1 nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà Ngô Thị Đ; Sửa phần này của bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Đ buộc người thừa kế của ông Phan Thành D là ông Phan Thành Đ1 thực hiện nghĩa vụ tài sản do ông D để lại là trả số tiền nợ gốc gồm: 200.000.000 đồng Hợp đồng vay tiền số công chứng 004311/2018/CCBH quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 11/6/2018, số tiền vay 130.000.000 đồng tại Hợp đồng vay tiền số công chứng 006968/2018/CCBH quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 21/9/2018; Trả Số tiền nợ gốc là: 400.000.000 đồng Hợp đồng vay tiền số công chứng 006760/2018/CCBH quyển số 3.TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 04/11/2019; Tổng cộng là 730.000.000 đồng. Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[6] Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc chỉ yêu cầu người thừa kế theo pháp luật duy nhất của ông Phan Thành D là ông Phan Thành Đ1 trả lại số tiền nợ gốc, không yêu cầu trả lãi.
[7] Căn cứ Điều 4 của các Hợp đồng vay tiền các bên thỏa thuận “...Trường hợp không thanh toán được số tiền vay, lãi, bên B cam kết dùng tài sản riêng của mình để thanh toán cho bên bên A.”. Do đó, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Phan Thành Đ1 thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền nợ gốc cho bà Ngô Thị Đ thì bà Ngô Thị Đ có trách nhiệm hoàn trả ngay bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số Cs 092999, thửa đất số 271, tờ bản đồ số 26 tọa lạc tại địa chỉ ấp S, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang do Sở T3, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 26/6/2019 đứng tên ông Phan Thành D cho ông Phan Thành Đ1. Do đó, không chấp nhận yêu cầu phản tố của người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông D là ông Phan Thành Đ1: buộc bà Ngô Thị Đ có trách nhiệm hoàn trả ngay bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số Cs 092999, thửa đất số 271, tờ bản đồ số 26 tọa lạc tại địa chỉ ấp S, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang do Sở T3, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 26/6/2019 đứng tên ông Phan Thành D cho ông Đ1.
[8] Nếu ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật mà người thừa kế theo pháp luật duy nhất của ông Phan Thành D là ông Phan Thành Đ1 không thực hiện trả đủ số tiền nói trên cho bà Đ thì bà Đ có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền bán phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CS 092999 tọa lạc tại địa chỉ ấp S, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang do Sở T3, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 26/6/2019 đứng tên ông Phan Thành D. Số tiền thu được ngay sau khi bán phát mãi tài sản sẽ thanh toán cho bà Ngô Thị Đ nhận 930.000.000 đồng, nếu dư thì giao cho người thừa kế theo pháp luật duy nhất của ông Phan Thành D là ông Phan Thành Đ1 được nhận.
[9] Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Huy H về việc buộc người thừa kế theo pháp luật duy nhất của ông Phan Thành D là ông Phan Thành Đ1 thực hiện nghĩa vụ tài sản trả số tiền nợ gốc là: 100.000.000 đồng
theo Hợp đồng vay tiền số công chứng 000394 ký tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh giữa ông Phan Thành D và ông Võ Huy H ngày 08/02/2020 với các nội dung thỏa thuận giống như các hợp đồng vay mà ông D vay của bà Đ thực hiện sau thời điểm ông D vay tiền của bà Đ nhưng không có người nào chứng kiến việc hai bên có giao nhận tiền nên không có cơ sở chấp nhận.
[10] Đối với phần bản án sơ thẩm tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Đ buộc ông Phan Thành Đ1 phải chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản ông D để lại là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CS 092999 tọa lạc tại địa chỉ ấp S, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang do Sở T3, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 26/6/2019 đứng tên ông Phan Thành D trả cho bà Đ số tiền là 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng theo giấy vay mượn tiền (viết tay) ngày 11/6/2018. Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật không có đương sự nào kháng cáo, viện kiểm sát không kháng nghị nên được giữ nguyên, có hiệu lực pháp luật.
[11] Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là không có cơ sở, không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[12] Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Do yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Đ được chấp nhận nên bà Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Ngô Thị Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 29.250.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0016941 ngày 10/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8.
- - Ông Phan Thành Đ1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện mà bà Ngô Thị Đ được Hội đồng xét xử chấp nhận 930.000.000 đồng là 39.900.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ưng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0036204 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Ông Phan Thành Đ1 còn phải nộp thêm số tiền án phí là 39.600.000 đồng.
- - Ông Võ Huy H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 7.561.500 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí mà ông Võ Huy H đã nộp là 2.500.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0017002 ngày 23/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Ông Võ Huy H còn phải nộp thêm số tiền án phí là 5.061.500 đồng. Nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- [9] Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Ngô Thị Đ nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Huy H kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
I. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Ngô Thị Đ; Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Huy H; Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 398/2023/DS-ST ngày 14/11/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Đ buộc ông Phan Thành Đ1 phải chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản ông D để lại là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CS 092999 tọa lạc tại địa chỉ ấp S, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang do Sở T3, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 26/6/2019 đứng tên ông Phan Thành D gồm: Trả số tiền nợ gốc 200.000.000 đồng theo giấy vay mượn tiền (viết tay) ngày 11/6/2018; Trả số tiền nợ gốc là: 200.000.000 đồng tại Hợp đồng vay tiền số công chứng 004311/2018/CCBH quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 11/6/2018; Trả số tiền nợ gốc 130.000.000 đồng tại Hợp đồng vay tiền số công chứng 006968/2018/CCBH quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 21/9/2018; Trả Số tiền nợ gốc là: 400.000.000 đồng tại Hợp đồng vay tiền số công chứng 006760/2018/CCBH quyển số 3.TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 04/11/2019. Tổng cộng là 930.000.000 đồng. Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Phan Thành Đ1 thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền nợ gốc cho bà Ngô Thị Đ thì bà Ngô Thị Đ có trách nhiệm hoàn trả ngay bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số Cs 092999, thửa đất số 271, tờ bản đồ số 26 tọa lạc tại địa chỉ ấp S, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang do Sở T3, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 26/6/2019 đứng tên ông Phan Thành D cho ông Phan Thành Đ1.
Nếu ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật mà người thừa kế theo pháp luật duy nhất của ông Phan Thành D là ông Phan Thành Đ1 không thực hiện trả đủ số tiền nói trên cho bà Đ thì bà Đ có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền bán phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CS 092999 tọa lạc tại địa chỉ ấp S, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang do Sở T3, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 26/6/2019 đứng tên ông Phan Thành D. Số tiền thu được ngay sau khi bán phát mãi tài sản sẽ thanh toán cho bà Ngô Thị Đ nhận 930.000.000 đồng, nếu dư thì giao cho người thừa kế theo pháp luật duy nhất của ông Phan Thành D là ông Phan Thành Đ1 được nhận.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ngô Thị Đ về việc không yêu cầu tính lãi suất đối với các khoản vay.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Đ đối với số tiền lãi của giấy vay mượn tiền (viết tay) ngày 11/6/2018, hợp đồng vay tiền số công chứng 004311/2018/CCBH quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 11/6/2018 lập tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh giữa bà Ngô Thị Đ và ông Phan Thành D; Yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 100.000.000 đồng của hợp đồng vay tiền số công chứng 000394/2020/CCBH lập tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 08/02/2020 giữa ông Võ Huy H và ông Phan Thành D.
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phan Thành Đ1 về việc buộc bà Ngô Thị Đ chấm dứt hành vi cản trở quyền của người sử dụng đất. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phan Thành Đ1 về việc buộc bà Ngô Thị Đ hoàn trả ngay bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số Cs 092999, thửa đất số 271, tờ bản đồ số 26 tọa lạc tại địa chỉ ấp S, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang do Sở T3, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 26/6/2019 đứng tên ông Phan Thành D cho ông Phan Thành Đ1.
4. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Võ Huy H buộc người thừa kế theo pháp luật của ông Phan Thành D là ông Phan Thành Đ1 thực hiện nghĩa vụ tài sản do ông D để lại trả tổng số tiền tạm tính đến ngày 14/11/2023 là: 151.230.000 đồng, trong đó: Số tiền nợ gốc là: 100.000.000 đồng; lãi trong hạn chưa trả số tiền là: 4.980.000 đồng; lãi quá hạn chưa trả số tiền là: 46.250.000 đồng theo Hợp đồng vay tiền ngày 08/02/2020 số công chứn 000394 lập tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh giữa ông Võ Huy H và ông Phan Thành D.
II. Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà Ngô Thị Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Ngô Thị Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 29.250.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0016941 ngày 10/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8.
- - Ông Phan Thành Đ1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 39.900.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ưng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0036204 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Ông Phan Thành Đ1 còn phải nộp thêm số tiền án phí là 39.600.000 đồng
- - Ông Võ Huy H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 7.561.500 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí mà ông Võ Huy H đã nộp là 2.500.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0017002 ngày 23/5/2022 của Chi
cục Thi hành án dân sự Quận 8. Ông Võ Huy H còn phải nộp thêm số tiền án phí là 5.061.500 đồng. Nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
III. Về chi phí tố tụng là số tiền giám định chữ viết, chữ ký bà Ngô Thị Đ tự nguyện chịu.
IV. Án phí dân sự phúc thẩm:
- - Bà Ngô Thị Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả lại cho bà Đ tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0036416 ngày 27/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh
- - Ông Võ Huy H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0036417 ngày 27/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quỳnh Châu |
Bản án số 375/2024/DS-PT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại; tranh chấp đòi tài sản; tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở thực hiện quyền sử dụng đất.
- Số bản án: 375/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại; Tranh chấp đòi tài sản; Tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở thực hiện quyền sử dụng đất.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Ngô Thị Đ; Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Huy H; Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 398/2023/DS-ST ngày 14/11/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh
